Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/HS-ST.

Ngày 20-05-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam

Bà Huỳnh Thị Minh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 05 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 250/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hoài P, (tên gọi khác: không) sinh năm 1986 tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú: tổ D, thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12 ; Nghề nghiệp: không. Họ tên cha: Trần T ( đã mất); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M ( đã mất); Vợ Nguyễn Hồng V (đã ly hôn) có 1 con sinh năm 2012

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân : Ngày 22/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” chấp hành xong .Ngày 23/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong

Bị cáo bị bắt ngày 26/1/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố B.( Có mặt)

- Bị hại: bà Thân Thị Nguyệt Á sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai

- Người liên quan: Bà Lê Thị P1 sinh năm 1986

Địa chỉ: tổ 10, KP 5, phường Long Bình, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

( Bà Nguyệt, bà P1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, Trần Hoài P sinh năm:1986, HKTT: 37 đường A, tổ D, thôn C, xã T, huyện Đ, Bình Thuận đi bộ đến dãy trọ thuộc tổ B, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Lead màu vàng biển số 60C2 - 357.79 của chị Thân Thị Nguyệt Á, sinh năm: 1990, HKTT: ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai đang dựng trong dãy trọ không người trông coi. P lén lút đến dắt trộm xe mang về phòng trọ của P tại khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu. P mở cốp xe phát hiện có 01 chiếc bóp màu kem hồng bên trong có số tiền 1.300.000 đồng và giấy tờ xe, bằng lái, căn cước công dân mang tên Thân Thị Nguyệt Á. P tháo biển số của xe L và thay biển số 36H6 - 8057 có sẵn tại phòng trọ vào xe trộm cắp rồi dùng chai xịt sơn để sơn lại xe thành màu đỏ và màu xanh dương. Ngày 14/01/2024, P thuê người mở khóa xe rồi chạy đến nhà trọ thuộc tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, Đồng Nai cầm xe cho Lê Thị P1, sinh năm: 1986, HKTT: đường B, khu phố I, B, Q. B. TP Hồ Chí Minh với số tiền 1.800.000 đồng rồi sử dụng hết số tiền trộm cắp và tiền cầm xe. Ngày 16/01/2024, Công an phường L phát hiện biển số xe 60C2-357.79 và giấy tờ tuỳ thân của chị Thân Thị Nguyệt Á tại phòng trọ của P1 nên đã đưa P1 về làm việc và lập hồ sơ, tạm giữ xe Lead (đang gắn biển số 36H6 – 8057) và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án:

  • 01 chìa khóa xe mô tô tay cầm bằng nhựa màu đen, có chữ honda, hai bên khóa có chữ LƯU MY
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, số khung: 4516FY530026, số máy: JF45E0548774; biển số 60C2 - 357.79;
  • 01 căn cước công dân số [...], 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...], 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 60C2 – 357.79 (đều mang tên Thân Thị Nguyệt Á, sinh năm 1990);
  • 01 biển số xe môtô số 36H6-8057;
  • 01 bình sơn phun màu đen A210 ATM thể tích 400ml đã qua sử dụng
  • 02 bình sơn 242 xịt, WIN màu xanh, thể tích 400ml đã qua sử dụng
  • 01 bình sơn 242 xịt, WIN màu đỏ, thể tích 400ml đã qua sử dụng
  • 01 USB màu trắng- xanh có ghi chữ GWS và 01 USB hiệu Kingston, màu xám, 4GB chứa dữ liệu điện tử

* Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Biên Hòa kết luận A (một) xe mô tô, gắn máy Biển số 60C2-357.79, nhãn hiệu Honda Lead, số khung: 4516FY530026, số máy: JF45E0548774 có giá trị là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) .

- Về trách nhiệm dân sự: chị Thân Thị Nguyệt Á đã nhận lại chiếc xe, chìa khoá xe và các giấy tờ tùy thân và không yêu cầu bồi thường số tiền 1.300.000 đồng và các tài sản khác mà P1 đã trộm cắp của chị Á .

Bản cáo trạng số 258/CT-VKSBH ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Hoài P về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo Trần Hoài P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận bị cáo P đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Thân Thị Nguyệt Á luận 01 (một) xe mô tô, gắn máy Biển số 60C2-357.79, nhãn hiệu Honda Lead, số khung: 4516FY530026, số máy: JF45E0548774 và số tiền 1.300.000đ để trong cốp xe. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 12.300.000 đồng (mười hai triệu ba trăm nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo về tội: “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Cần có mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu đã có hai bản án .Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: chị Thân Thị Nguyệt Á đã nhận lại tài sản, chị Lê Thị P1 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] về biện pháp tư pháp và vật chứng của vụ án:

Buộc Trần Hoài P nộp số tiền thu lợi bất chính là :1.800.000đ ( một triệu tám trăm nghìn đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hùy 01 bình sơn phun màu đen A210 ATM thể tích 400ml đã qua sử dụng; 02 bình sơn 242 xịt, WIN màu xanh, thể tích 400ml ; 01 bình sơn 242 xịt, WIN màu đỏ, thể tích 400ml đã qua sử dụng

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt bị cáo Trần Hoài P: 01 (một) năm 06 ( sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 26/1/2024.

2. Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Buộc Trần Hoài P nộp số tiền thu lợi bất chính là :1.800.000đ ( một triệu tám trăm nghìn đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hùy 01 bình sơn phun màu đen A210 ATM thể tích 400ml đã qua sử dụng; 02 bình sơn 242 xịt, WIN màu xanh, thể tích 400ml ; 01 bình sơn 242 xịt, WIN màu đỏ, thể tích 400ml đã qua sử dụng. ( Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/5/2024)

3. Về án Phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Trần Hoài P phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST

Bị cáo Trần Hoài P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, chị Thân Thị Nguyệt Á, Lê Thị P1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa (2);
  • - Nhà tạm giữ Công an TP.Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 242/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger