Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/HSST

Ngày: 29/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Kim Hường;

2/ Bà Trần Quang Cảnh;

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thuý là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 237/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: ĐOÀN NGỌC B; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 244/3 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: C L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Đoàn Ngọc T (đã chết) và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1961; Vợ: Võ Thị Hoàng O; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
  2. Họ và tên: VÕ THỊ HOÀNG O; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1983 tại Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 244/3 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: C L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Võ P (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1961; Chồng: Đoàn Ngọc B, sinh năm 1985; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
  3. Họ và tên: ĐINH CÔNG D4; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Con ông Đinh Công C1 (đã chết) và bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1955; Vợ: Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1977; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; Nhân thân: Ngày 05/9/1990 bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Ngày 19/7/2011 bị Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” (đóng phạt ngày 21/7/2011); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
  4. Họ và tên: NGÔ THANH P1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 3 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông (Không rõ) và bà Ngô Thị H1, sinh năm 1962; Vợ: Vòng M, sinh năm 1981; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Nhân thân: Ngày 21/01/2021 bị Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đóng phạt ngày 28/01/2021); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
  5. Họ và tên: NGUYỄN THỊ N; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1965 tại Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Nguyễn Thế D1, sinh năm 1947 và bà Bùi Thị B1 (đã chết); Chồng: Triệu Khải N1, sinh năm 1969; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1998; Nhân thân: Ngày 19/5/2012 bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.580.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đóng phạt ngày 23/11/2012); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
  6. Họ và tên: ĐINH VĂN H2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1977 tại Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: 1 Đường số H, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đinh Văn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Ngày 07/7/2011 bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2013 (đã đóng án phí, xoá án tích); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;

(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1982, ngụ tại 2 đường số A, khu phố H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
  2. Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1977, ngụ tại 2 Đường số E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
  3. Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1968, ngụ tại 3 Ông Í, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
  4. Ông Nguyễn Quang D3, sinh năm 1969 ngụ tại B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, Ngô Thanh P1, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N, Đinh Công D4 đến nhà số C L, phường P, quận T thì được Võ Thị Hoàng O mở cửa rồi dẫn lên căn phòng phía sau của lầu 1 nhà số C L, phường P, quận T để đánh bạc bằng ăn tiền bằng hình thức đánh binh sập xám tính chi. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Quang D3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Thị B2 đến nhà địa chỉ trên thì Võ Thị Hoàng O tiếp tục ra mở cửa và dẫn lên căn phòng phía sau tại lầu 1 của nhà số C L, phường P để đánh ăn tiền bạc bằng hình thức binh sập xám tính chi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường P, quận T kiểm tra bắt quả tang các đối tượng trên có hành vi đánh bạc ăn tiền nên đưa tất cả về trụ sở Công an làm việc.

- Hình thức đánh bạc:

Các bị can sử dụng bộ bài tây 52 lá, chia cho mỗi người 13 lá bài. Sau đó, người chơi sắp sếp bài (binh bài) thành 03 chi: 05 lá bài cho chi 01, 05 lá bài cho chi 02, 03 lá bài cho chi 03, phải sắp xếp sao cho chi 01 mạnh hơn chi 02 và chi 02 mạnh hơn chi 03 nếu không sẽ tính là binh lủng. Mỗi người chơi sắp xếp thành các chi khác nhau, độ lớn của các chi được sắp xếp theo thứ tự tăng dần: Mậu thầu (các lá bài không trùng nhau), 1 đôi (hai lá bài trùng nhau), thú (hai đôi), xám chi (ba lá bài trùng nhau), sảnh (5 lá bài liền kề nhau), thùng (5 lá bài cùng màu, cùng nước với nhau), cù lủ (ba lá bài trùng nhau + 2 lá bài trùng nhau), tứ quý (04 lá bài trùng nhau), thùng phá sảnh (5 lá bài liền kề nhau + 5 lá bài cùng màu, cùng nước với nhau). Thứ tự các lá bài tăng dần từ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; Nếu các lá bài giống nhau thì xét hòa cho hai người chơi đó (B3 hòa giữa người làm cái với người chơi thì người làm cái thắng, giữa những người chơi với nhau tính là hòa). Ngoài ra còn có các trường hợp mậu binh tới trắng thắng hết bài của những người còn lại: Sảnh rồng, lục phé bôn (6 đôi), 04 xám chi, 03 tứ quý, 03 cái thùng, 03 cái sảnh. Sau khi binh bài xong thì 04 người cùng nhau lật bài và so sánh kết quả.

Thống nhất mỗi chi là 50.000 đồng và cách tính ăn thua cụ thể như sau:

  • Chi 3: Mậu thầu-đôi sẽ ăn thua 1 chi, xám chi sẽ ăn ba chi.
  • Chi 2: Mậu thầu, đôi, thú, xám chi, sảnh, thùng sẽ ăn, thua 1 chi, cù lũ sẽ ăn thua 02 chi, tứ quý sẽ ăn thua 08 chi, thùng phá sảnh sẽ ăn thua 10 chi
  • Chi 1: Mậu thầu, đôi, thú, xám chi, sảnh, thùng, cù lũ sẽ ăn, thua 1 chi, tứ quý sẽ ăn thua 04 chi, thùng phá sảnh sẽ ăn thua 05 chi, thùng phá sảnh nhị (A, 2,3,4,5) sẽ ăn thua 7 chi, thùng phá sảnh thượng (10,J, Q, K, A) sẽ ăn thua 10 chi.

Nếu bài có Sảnh rồng ăn 26 chi, còn 03 cái thùng, 03 cái sảnh, lục phé bôn thì sẽ ăn mỗi người 06 chi; Người thua hết 03 chi bài sẽ bị nhân đôi.

Việc thắng thua được ghi vào 01 tờ giấy A4 để tính tiền: T3 01 chi thì ghi vào giấy A4 là +1, thua 01 chi thì ghi vào giấy A4 là -1.

Nếu 01 người chơi thắng 03 người chơi còn lại cả 3 chi/mỗi người chơi thì được thưởng 1 sao (5 chi); người nào thắng cuối cùng (sau 12 ván) sẽ được thưởng 15 chi và mỗi người còn lại bị trừ 5 chi; nếu người thắng cuối cùng mà cả ba người còn lại đều thua thì được thưởng 15 chi và mỗi người thua bị trừ 5 chi.

Khi kết thúc 12 ván (mỗi người làm cái 3 ván) thì tổng kết điểm (chi) để tính tiền và người thắng sẽ nộp 200.000 đồng tiền xâu bỏ vào rổ nhựa để dưới bàn cho Đoàn Ngọc B.

- Nhóm tổ chức đánh bạc:

Đoàn Ngọc B và Võ Thị Hoàng O là vợ chồng cùng sống tại căn nhà số C L, phường P, quận T. Khoảng 12 giờ 00 ngày 25/02/2024, B gọi điện thoại rủ Nguyễn Quang D3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Thị B2, Ngô Thanh P1, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N, Đinh Công D4 đến nhà địa chỉ trên đánh bạc được ăn thua bằng tiền (hình thức đánh binh sập xám tính chi) nhằm thu tiền xâu còn Võ Thị Hoàng O có nhiệm vụ phụ giúp phục vụ ăn uống cho những người đánh bạc khi có nhu cầu, mở cửa, trông xe cho những người đánh bạc, O đồng ý. Để tổ chức đánh bạc tại nhà B2 đã chuẩn bị 50 bộ bài tây loại 52 lá để thay bài cho khách; 02 bàn gỗ có trải khăn, 08 ghế nhựa và thức ăn, nước uống cho người đánh bạc. Quá trình tổ chức đánh bạc, Đoàn Ngọc B và Võ Thị Hoàng O đã thu lợi số tiền 200.000 đồng.

- Nhóm đánh bạc:

+ Chiếu bạc thứ nhất gồm: Ngô Thanh P1, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N, Đinh Công D4. Khi đi đánh bạc Ngô Thanh P1 mang theo số tiền 5.200.00 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang P1 đã thua 34 chi với số tiền 1.700.000 đồng còn lại số tiền 3.500.000 đồng dùng để đánh bạc; Nguyễn Thị N mang theo số tiền 8.300.00 đồng để đánh bạc, khi bắt quả tang P1 đã thua 24 chi với số tiền 1.200.000 đồng còn lại 7.100.000 đồng dùng để đánh bạc; Nguyễn Công D5 mang theo 2.350.000 đồng để đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang Công D5 thua hết 2.100.000 đồng, còn 250.000 đồng; Đinh Văn H2 mang theo 4.000.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bắt quả tang Hoàng thắng số tiền 5.000.000 đồng trong đó H2 đã bỏ tiền xâu vào rổ cho B số tiền 200.000 đồng, khi bị Công an phát hiện H2 cầm tiền bỏ chạy thì bị rơi số tiền 1.800.000 đồng nên khi bị bắt thu giữ của H2 số tiền 7.000.000 dùng để đánh bạc.

Tổng số tiền đánh bạc ở chiếu bạc thứ nhất là 19.850.000 đồng (trong đó Nguyễn Thị N số tiền 7.100.000 đồng, Đinh Văn H2 số tiền 9.000.000 đồng, Ngô Thanh P1 số tiền 3.500.000 đồng, Đinh Công D4 số tiền 250.000 đồng)

+ Chiếu bạc thứ hai gồm: Nguyễn Quang D3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Thị B2 được Đoàn Ngọc B rủ đến nhà số C L, phường P, quận T đánh bạc ăn tiền thì Nguyễn Hữu T1 mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Quang D3 mang theo số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Anh T2 mang theo số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Thị B2 mang theo số tiền 14.300.000 đồng trong đó sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc còn 14.000.000 là tiền cá nhân dùng để trả nợ. Khi T1, Quang D3, B2, T2 đang chuẩn bị đánh bạc ăn tiền thì bị Công an phường P kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc.

Tổng số tiền đánh bạc ở chiếu bạc thứ hai là 1.500.000 đồng (trong đó Nguyễn Hữu T1 số tiền 200.000 đồng, Nguyễn Quang D3 số tiền 400.000 đồng, Nguyễn Anh T2 số tiền 600.000 đồng, Nguyễn Thị B2 số tiền 300.000 đồng).

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Đinh Công D4:

  • Một (01) bộ bài tây 52 lá, một (01) tờ phơi ghi điểm ăn thua, một (01) cây bút bi dùng để ghi điểm, một (01) bộ xí ngầu là dụng cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc (bút lục 578);
  • Số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo D4 dùng để đánh bạc (Bút lục 578);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei 1: 357334096074408, số Imei 2: 357334096280203, D4 sử dụng liên lạc với B2 tham gia đánh bạc (Bút lục 880);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số: 59D2- 372.94, số khung: 6305FZ159165, số máy: JF63E1513266. Qua xác minh xe gắn máy trên do Đinh Công D4 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho D4 (Bút lục 300);

- Thu giữ của Nguyễn Thị N:

  • Số tiền 7.100.000 (bảy triệu một trăm ngàn) đồng, là số tiền N dùng để đánh bạc (Bút lục 598);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 357853680519353, N sử dụng liên lạc với Đoàn Ngọc B tham gia đánh bạc (Bút lục 881);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số: 54S4-2101, số máy: JF18E-5373751; số khung: RLHJF18078Y-766270, N sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc N khai nhận mượn của ông Nguyễn Quốc D6 và khi ông D6 cho N mượn xe, N không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do ông Nguyễn Quốc D6, thường trú: 282/43/15 đường B, Phường B, quận B đứng tên chủ sở hữu. Việc N sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì ông D6 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho ông D6 (bút lục 294-295).

- Thu giữ của Ngô Thanh P1:

  • Số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng thu giữ của bị cáo P1 dùng để đánh bạc (Bút lục 542);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 35785687422536, P1 sử dụng liên lạc với Đoàn Ngọc B tham gia đánh bạc (Bút lục 879);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Airblade màu xanh bạc biển số: 59D3-005.96, số máy: KF41E0074006, số khung: 4101LZ028239, P1 sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc P1 khai nhận mượn của bà Trương Thị Ngọc T4 và khi bà T4 cho P1 mượn xe, P1 không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc; Qua xác minh xe gắn máy trên do bà Trương Thị Ngọc T4, thường trú: 19 Đ, phường T, quận T đứng tên chủ sở hữu. Việc P1 sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì bà T4 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho bà T4 (Bút lục 292).

- Thu giữ của Đinh Văn H2:

  • Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia model TA-1174, số Imei 1: 353482150974742, Imei 2: 353482150974740 H2 sử dụng để liên lạc cá nhân, cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho H2 (Bút lục 383);
  • Số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng, H2 dùng để đánh bạc (Bút lục 506);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu S1, số IMEI: 357160080938377 Hoàng sử dụng liên lạc với Đoàn Ngọc B tham gia đánh bạc (Bút lục 878);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Honda GTR150, biển số: 59X3-433.02, số máy: KB21E1047296; số khung: 211XHK048217, H2 sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc H2 khai nhận mượn của ông Phạm Văn P2 và khi ông P2 cho H2 mượn xe, H2 không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do ông Phạm Văn P2, thường trú: 1 đường số H, khu phố B, phường H, Thành phố T đứng tên chủ sở hữu. Việc H2 sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì ông P2 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho ông P2 và ông P2 không có yêu cầu gì khác (Bút lục 288).

- Thu giữ của Đoàn Ngọc B:

  • Một (01) bàn nhựa cũ, bốn (04) ghế nhựa, một (01) bộ bài tây 52 lá, là dụng cụ các đối tượng sử dụng để đánh bạc (Bút lục 475);
  • Một (01) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số máy: MNCP3LL/A; số seri: C2D6PMJW4Y, B sử dụng để liên lạc rủ các đối tượng đến đánh bạc (Bút lục 474);
  • Một (01) bàn inox, bốn (04) ghế gỗ, một (01) khăn trải bàn. Là các dụng cụ các bị can sử dụng để đánh bạc (Bút lục 474);
  • Một (01) rổ nhựa, B sử dụng để thu tiền xâu (Bút lục 474);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Vision màu đen xám biển số: 59C2-939.35, Số máy: JF86E2155089, Số khung: 5833KY090652, B sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc B khai nhận mượn của anh Trương Công T5 và khi anh T5 cho B mượn xe, B không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Trương Công T5, thường trú: F T, Phường A, quận T đứng tên chủ sở hữu. Việc B sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì anh T5 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho anh T5 (Bút lục 286);

- Thu giữ của Nguyễn Hữu T1:

  • Số tiền 200.000 đồng thu giữ của T1 dùng để đánh bạc (Bút lục 653);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, số Imei: HFFXGQGQ50F0V, T1 sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho T1 (Bút lục 445);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Airblade màu đỏ đen biển số: 49E1-289.56, số máy: JF4GE-4297832, số khung: RLHJF4604DY378914, là xe máy T1 không sử dụng để đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do Nguyễn Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho T1 và T1 không có yêu cầu gì khác (Bút lục 298-299);

- Thu giữ của Nguyễn Thị B2:

  • Số tiền 300.000 đồng thu giữ của B2 dùng để đánh bạc (Bút lục 666);
  • Số tiền 14.000.000 đồng là tiền cá nhân, B2 không dùng để đánh bạc. Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho B2 (bút lục 376);
  • Một (01) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6, số Imei: 869904056818936, B2 sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho B2 (Bút lục 376-377);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Honda SH màu đỏ biển số 50Y1-157.15, số máy: JF73E0052504; số khung: 7308GY052463, B2 sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc B2 khai nhận mượn của bà Nguyễn Thị S và khi bà S cho B2 mượn xe, B2 không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do bà Nguyễn Thị S, thường trú: F T, xã T, huyện H đứng tên chủ sở hữu. Việc B2 sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì bà S không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho bà S (bút lục 290).

- Thu giữ của Nguyễn Anh T2:

  • Số tiền 600.000 đồng thu giữ của T2 dùng để đánh bạc (bút lục 689);
  • Một (01) xe gắn máy hiệu Honđa Airblade biển số 59U2-064.93, số khung: RLHJF6304IZ516514, số máy: JF63E1226939, là xe máy T2 không sử dụng để đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do Nguyễn Anh T2 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho T2 (Bút lục 302).
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung Note 20 màu hồng, số Imei: 351850260347250, T2 sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại trên cho T2.

- Thu giữ của Nguyễn Quang D3:

  • Một (01) xe gắn máy hiệu Vario biển số 59CB-040.48 số khung: MH1KFA11XNK027488, số máy: KFA1E027383, D3 sử dụng để đi đánh bạc. Qua làm việc D3 khai nhận mượn của chị Nguyễn Thị H3 và khi chị H3 cho D3 mượn xe, D3 không nói mục đích mượn xe để đi đánh bạc. Qua xác minh xe gắn máy trên do chị Nguyễn Thị H3, thường trú: 56/34 đường G, phường P, Quận G đứng tên chủ sở hữu. Việc D3 sử dụng xe gắn máy trên để đi đánh bạc thì chị H3 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên trên cho chị H3 (Bút lục 287);
  • Số tiền 400.000 đồng thu giữ của D3 dùng để đánh bạc (Bút lục 704);
  • Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, số I: HGYHL01D0DXT, là điện thoại D3 sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho D3 (Bút lục 475a);

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 242 và 243/PNK ngày 09/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại cơ quan điều tra, các bị can Nguyễn Thị N, Đinh Văn H2, Ngô Thanh P1, Đinh Công D4, Đoàn Ngọc B, Võ Thị Hoàng O đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại bản cáo trạng số 257/CT-VKS ngày 18 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đoàn Ngọc B, Võ Thị Hoàng O về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố các bị cáo Ngô Thanh P1, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N, Đinh Công D4 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:

  • Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc B mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
  • Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thị Hoàng O mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn H2 mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thanh P1 mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Công D4 mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Đối với các bị cáo Đoàn Ngọc B với sự giúp sức của Võ Thị Hoàng O đã có hành vi tổ chức cho 02 chiếu bạc đánh ăn tiền dưới hình thức binh xập xám với tổng số tiền đánh bạc của 2 chiếu bạc là 21.350.000 đồng, trong đó chiếu bạc thứ nhất gồm Ngô Thanh P1, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N, Đinh Công D4 với số tiền đánh bạc là 19.850.000 đồng; Chiếu bạc thứ hai gồm Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Quang D3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị B2 với tổng số tiền đánh bạc là 1.500.000 đồng nhằm thu tiền xâu số tiền 200.000 đồng tại nhà số C L, phường P, quận T do B2 và O quản lý thì bị phát hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Đối với các bị cáo Ngô Thanh P1, Đinh Công D4, Đinh Văn H2, Nguyễn Thị N có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức binh xập xám với tổng số tiền đánh bạc là 19.850.000 (mười chín triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo P1, D4, N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo P1, D4, N; áp dụng quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo H2, B2 và O.

Trong vụ án này, bị cáo Đoàn Ngọc B giữ vai trò chính, là người chủ mưu, đề xướng việc tổ chức đánh bạc thu tiền xâu nên hình phạt dành cho bị cáo có phần nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Ngô Thanh P1, Đinh Công D4, Nguyễn Thị N đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo Đinh Văn H2 đã từng bị kết án mặc dù đã được xóa án tích tuy nhiên đây cũng là điểm cần lưu ý khi Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt.

[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nên miễn cho các bị cáo;

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với một (01) bộ bài tây 52 lá, một (01) tờ phơi ghi điểm ăn thua, một (01) cây bút bi dùng để ghi điểm, một (01) bộ xí ngầu, một (01) bàn nhựa cũ, bốn (04) ghế nhựa, một (01) bộ bài tây 52 lá; một (01) bàn inox, bốn (04) ghế gỗ, một (01) khăn trải bàn, một (01) rổ nhựa, Hội đồng xét xử xét thấy đây là dụng cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;

Đối với số tiền 250.000 đồng thu giữ của Đinh Công D4; số tiền 7.100.000 (bảy triệu một trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Thị N; số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng thu giữ của Ngô Thanh P1; số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng thu giữ của Đinh Văn H2; số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Hữu T1; số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Thị B2; số tiền 600.000 (sáu trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Anh T2; số tiền 400.000 (bốn trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Quang D3. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei 1: 357334096074408, số Imei 2: 357334096280203 thu giữ của bị cáo D3; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 357853680519353 thu giữ của bị cáo N; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 35785687422536 thu giữ của bị cáo P1; một (01) điện thoại di động hiệu S1 C9 Pro, số IMEI: 357160080938377 thu giữ của bị cáo H2; một (01) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số máy: MNCP3LL/A; số seri: C2D6PMJW4Y thu giữ của Đoàn Ngọc B, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 242 và 243/PNK ngày 09/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).

[5] Về số tiền thu lợi bất chính: Tại phiên toà, các bị cáo Đoàn Ngọc B và Võ Thị Hoàng O khai nhận thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nước;

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Ngọc B, Võ Thị Hoàng O phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Ngô Thanh P1, Đinh Công D4, Nguyễn Thị N và Đinh Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”

* Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Đoàn Ngọc B 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;

* Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Võ Thị Hoàng O 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;

* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Đinh Văn H2 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo chấp hành án;

* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Ngô Thanh P1 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo chấp hành án;

* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Đinh Công D4 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo chấp hành án;

* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Nguyễn Thị N 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo chấp hành án;

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;

* Áp dụng Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu huỷ: một (01) bộ bài tây 52 lá, một (01) tờ phơi ghi điểm ăn thua, một (01) cây bút bi dùng để ghi điểm, một (01) bộ xí ngầu, một (01) bàn nhựa cũ, bốn (04) ghế nhựa, một (01) bộ bài tây 52 lá; một (01) bàn inox, bốn (04) ghế gỗ, một (01) khăn trải bàn, một (01) rổ nhựa;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 19.850.000 (mười chín triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei 1: 357334096074408, số Imei 2: 357334096280203; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 357853680519353; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 35785687422536; một (01) điện thoại di động hiệu S1 C9 Pro, số IMEI: 357160080938377; một (01) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số máy: MNCP3LL/A; số seri: C2D6PMJW4Y;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 242 và 243/PNK ngày 09/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc các bị cáo Đoàn Ngọc B và Võ Thị Hoàng O liên đới nộp lại số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án tống đạt/niêm yết bản án hợp lệ theo quy định pháp luật;

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Công an quận Tân Phú;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 242/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đoàn Ngọc B, Võ Thị Hoàng O phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Ngô Thanh P1, Đinh Công D4, Nguyễn Thị N và Đinh Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger