|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 242/2024/HS-ST Ngày: 31-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Ông Bùi Quang Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 và ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đinh Ngọc D, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1988, tại Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B (khu B), xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Xóm B (khu B), xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn Khuê K, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; Vợ Hà Thị D1, sinh năm 1993; Có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị Bích T, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1988, tại Vĩnh Long; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; Chồng Châu Thanh L, sinh năm 1992; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Việt B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1990, tại Quảng Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T2, sinh năm 1963 và bà Cao Thị T3, sinh năm 1973; Vợ Đinh Thị T4, sinh năm 1988; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc D: Bà Lê Thị Ngọc N, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Văn phòng L1 Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)
- Bị hại: Trẻ Trần Thiên P, sinh năm 2019 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Chị Trần Thị T5, sinh năm 2001 (mẹ của bị hại)
Địa chỉ: 1 Đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đào Văn M, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: 70 Đường số 6, Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 Đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Anh Lê Việt T6, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 09/5/2020, Đinh Ngọc D không có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51D-473.38 kéo theo rơ móoc biển số 51R-225.84, trên cabin có Lê Việt B (tài xế của xe), lưu thông trên đường N, hướng từ đường Đ về vòng xoay M để rẽ phải vào đường V hướng về cầu P. Khi đến giao lộ Nguyễn Thị Đ và Võ Chí C, đèn tín hiệu giao thông ở làn đường giành cho xe ô tô màu xanh, còn làn đường giành cho xe mô tô đèn tín hiệu màu đỏ. D điều khiển xe rẽ phải để vào đường V đi về hướng cầu P, khi đến gần cột đèn số B, đường V thì xảy ra va đụng phần đầu bên phải của xe đầu kéo với xe mô tô biển số 59X2-144.84 do Lê Thị Bích T điều khiển, chở theo phía sau bà Nguyễn Thị H1 đang ngồi ôm bé Trần Thiên P.
Tai nạn xảy ra làm xe mô tô biển số 59X2-144.84 và T bị văng ra phía trước, cày xuống mặt đường, còn bà H1 và bé P bị văng ra khỏi xe mô tô, bé P bị bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô đầu kéo cán xượt qua phần bụng, làm rách phần bụng, gan vỡ và lòi ruột ra ngoài. P được đưa đi cấp cứu và chết tại Bệnh viện Q, T và bà H1 chấn thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện. Xe mô tô biển số 59X2-144.84 bị hư hỏng.
Đoạn đường xảy ra tai nạn là giao lộ Nguyễn Thị Đ và Võ Chí C, có đèn tín hiệu giao thông hoạt động bình thường, tại thời điểm xảy ra tai nạn, làn đường giành cho xe ô tô đèn tín hiệu giao thông màu xanh, làn đường giành cho xe mô tô đèn tín hiệu giao thông màu đỏ.
Vị trí xảy ra va đụng là phía trước bên phải của xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38 (cản phía trước đầu xe bị trầy xước, mài mòn, nứt bể, biến dạng, điểm gần nhất cách mặt đất 40cm, xa nhất cách 67cm) với phần bên trái xe mô tô biển số 59X2-144.84, sau va đụng xe mô tô ngã về bên phải, chà xuống mặt đường để lại các dấu vết mài mòn phần mũ ốp phía trước, tay cầm, tay thắng bên phải của xe mô tô biển số 59X2-144.84.
Trích xuất dữ liệu hành trình của xe ô tô đầu kéo thể hiện trước khi xảy ra tai nạn giao thông, xe ô tô đầu kéo đang di chuyển với tốc độ 64km/h, khi xảy ra tai nạn là 57km/h, trước khi dừng xe là 41km/h.
Nguyên nhân để xảy ra tai nạn giao thông là do Đinh Ngọc D điều khiển xe ô tô đầu kéo khi không có giấy phép lái xe theo quy định, chuyển hướng rẽ phải thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn (tốc độ từ 41 đến 57km/h), điểm xảy ra tai nạn thuộc phần đường hỗn hợp. Vi phạm khoản 1 Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; Lê Thị Bích T điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn đỏ), vi phạm khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ.
Kết luận giám định pháp y tử thi số: 862-20/KLGĐ-PY ngày 04/6/2020 của Phòng K1 Công an Thành phố H, xác định nguyên nhân chết của bé Trần Thiên P là do đa chấn thương, gan vỡ, phổi dập, ruột thoát ra ngoài, xây xát da dạng đường vân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Việt B khai nhận đêm ngày 08/5/2020, B điều khiển xe ô tô đầu kéo 51D-473.38 kéo theo rơ móoc biển số 51R-225.84 cùng với D đi giao hàng tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 12 giờ ngày 09/5/2020, khi giao hàng xong thì B giao xe cho D điều khiển để B vào cabin nằm nghỉ. Khi giao xe cho D, thì B biết D không có giấy phép lái xe hạng FC. Khi D điều khiển đi đến đoạn đường nêu trên thì xảy ra tai nạn giao thông làm chết bé Trần Thiên P.
Khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Việt B xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng FC và 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Việt T6 và thừa nhận là tài xế điều khiển xe gây ra tai nạn, qua kiểm tra xác định B sử dụng giấy phép lái xe và chứng minh nhân dân của em là Lê Việt T6 để xin vào làm lái xe ô tô đầu kéo cho ông Đào Văn M. Ông M nhận thấy bộ hồ sơ xin việc của T6 đủ điều kiện nên ông M nhận Lê Việt T6 (thực chất là Lê Việt B) vào làm việc và giao xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38 cho B điều khiển và chỉ định cho Đinh Ngọc D là phụ xe cho B, mỗi chuyến xe thì tài xế được 15% lợi nhuận, còn phụ xe được 5%.
Qua kiểm tra hệ thống kỹ thuật, an toàn của cả hai xe hoạt động bình thường; Đinh Ngọc D và Lê Thị Bích T không có Giấy phép lái xe theo quy định.
Đối với Lê Việt T6, T6 là em của Lê Việt B, T6 đi làm tài xế ở Campuchia, khi đi thì T6 để giấy phép lái xe ở nhà, T6 không biết B lấy các giấy tờ của T6 để sử dụng, sau khi về nước thì T6 mới biết sự việc.
Vật chứng vụ án:
01 xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38; 01 Rơ móoc biển số 51R-225.84. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Đào Văn M là chủ sở hữu; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, biển số 59X2-144.84 do anh Nguyễn Văn T7, ngụ quận T đứng tên chủ sở hữu, anh T7 đã làm giấy ủy quyền cho anh Châu Thanh L (chồng của T) được quyền sử dụng và định đoạt xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh L;
01 giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Lê Việt T6; 01 Giấy Chứng minh nhân dân, mang tên Lê Việt T6, qua giám định là thật. Tháng 02 năm 2020 T6 đi làm ăn ở C nên để giấy phép lái xe và Chứng minh nhân dân ở nhà, T6 không biết B lấy các giấy tờ của mình để sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các giấy tờ trên cho T6.
Về dân sự: Ông Đào Văn M và bị cáo Đinh Ngọc D đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bé P với tổng số tiền là 138.500.000 đồng. Bà Trần Thị T5 là mẹ của bé P không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với thương tích của bà H1 và chị T, bà H1 và chị T từ chối giám định thương tích và làm đơn bãi nại không yêu cầu giải quyết.
Cáo trạng số: 410/CT-VKSTPTĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lê Việt B về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với: Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Lê Việt B về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Đinh Ngọc D 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Thị Bích T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Việt B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo có việc làm ở quê không có hợp đồng lao động, có thu nhập ổn định với mức thu nhập thực lãnh trung bình là 5.000.000 đồng/tháng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử khấu trừ 01 phần thu nhập của bị cáo từ 5% đến 10%/tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
Luật sư Lê Thị Ngọc N bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc D trình bày: Bị cáo D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố và luận tội đối với bị cáo D. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại; gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc; phạm tội lần đầu; bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn phải lao động để phụ giúp gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T, Lê Việt B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định:
[3] Khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 09/5/2020, Đinh Ngọc D không có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38 kéo theo rơ móoc biển số 51R-225.84, lưu thông trên đường N, hướng từ đường Đ về vòng xoay M. Khi đến vòng xoay M (đèn tín hiệu giao thông màu xanh) D điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải vào đường V hướng về cầu P, do không giảm tốc độ đến mức an toàn, thiếu chú ý quan sát, đã để bên phải phía trước đầu xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38 va đụng vào bên trái xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, biển số 59X2-144.84 do Lê Thị Bích T (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển chở theo phía sau bà Nguyễn Thị H1 đang ngồi ôm bé Trần Thiên P. Lúc này, đèn tín hiệu giao thông ở làn xe mô tô màu đỏ. Tai nạn xảy ra làm bé P bị văng ra khỏi xe mô tô bị bánh xe bên phải của đầu kéo cán xượt qua người làm bé P chết trước khi tới bệnh viện Q (nay là Bệnh viện L2). Do đó, hành vi của Đinh Ngọc D đã vi phạm khoản 1 Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; hành vi của Lê Thị Bích T đã vi phạm khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Lê Việt B biết rõ Đinh Ngọc D không có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định nhưng vẫn giao xe ô tô đầu kéo cho D điều khiển, để xảy ra tai nạn giao thông làm chết 01 người. Hành vi của Lê Việt B đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T, Lê Việt B là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại đến tính mạng của trẻ Trần Thiên P, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân tham gia giao thông bình thường trên đường, nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[7] Xét về nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[8] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[10] Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[11] Bị cáo D đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo D, cha mẹ bị cáo D là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[12] Bị cáo T là phụ nữ phạm tội khi đang mang thai, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo T, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[13] Bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[14] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[15] Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy:
[16] Các bị cáo D, T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại. Xét thấy, không cần thiết phải bắt các bị cáo D, T chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo D, T hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
[17] Về khấu trừ 01 phần thu nhập và lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt B khai có thu nhập từ việc làm ở quê không có hợp đồng lao động, bình quân mỗi tháng thu nhập khoảng 5.000.000 đồng, nên khấu trừ thu nhập hàng tháng để sung vào ngân sách nhà nước. Áp dụng khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự, khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo là 10% x 5.000.000 đồng = 500.000 đồng/tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
[18] Về vật chứng vụ án:
[18.1] 01 xe ô tô đầu kéo biển số 51D-473.38; 01 Rơ móoc biển số 51R-225.84 do ông Đào Văn M là chủ sở hữu; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, biển số 59X2-144.84 do anh Nguyễn Văn T7 đứng tên chủ sở hữu, anh T7 đã làm giấy ủy quyền cho anh Châu Thanh L (chồng bị cáo T) được quyền sử dụng và định đoạt xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông M và anh L là đúng quy định pháp luật;
[18.2] 01 giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Lê Việt T6; 01 giấy chứng minh nhân dân, mang tên Lê Việt T6, qua giám định là thật. Tháng 02 năm 2020, T6 đi làm ăn ở Campuchia nên để giấy phép lái xe và chứng minh nhân dân ở nhà, việc B lấy các giấy tờ trên để sử dụng T6 không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các giấy tờ trên cho T6 là có căn cứ.
[19] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Ngọc D và ông Đào Văn M đã hỗ trợ, bồi thường tổng số tiền 138.500.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại bà Trần Thị T5 không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[20] Đối với thương tích của bà H1 và chị T, bà H1 và chị T đã từ chối giám định thương tích không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[21] Đối với Lê Việt T6, không biết B sử dụng các giấy tờ của mình trái quy định của pháp luật nên không có căn cứ để xử lý.
[22] Đối với ông Đào Văn M, không biết bị cáo B sử dụng các giấy tờ của Lê Việt T6 để xin việc nên giao xe ô tô đầu kéo cho B điều khiển nên không có căn cứ để xử lý đối với ông M.
[23] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đinh Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị Bích T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Việt B phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Việt B 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Việt B cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lê Việt B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Lê Việt B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án bị cáo Lê Việt B phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập hằng tháng đối với bị cáo Lê Việt B là 500.000 (năm trăm ngàn) đồng/tháng. Thời gian khấu trừ thu nhập là 02 (hai) năm tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đinh Ngọc D, Lê Thị Bích T, Lê Việt B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 242/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 242/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Ngọc D và đồng phạm
