Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------------------------------------

Bản án số: 242/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Anh Dũng
  2. Bà Trương Thị Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1747/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Việt L, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 2003

Địa chỉ: Xóm H, khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

(Anh L1 và chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và các văn bản tố tụng khác nguyên đơn anh Nguyễn Việt L trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Minh N không có tổ chức cưới hỏi, có thời gian tìm hiểu khoảng vài tháng, tự nguyện đi đến hôn

2

nhân, có giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã N cấp ngày 05/4/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh vào Thành phố Hồ Chí Minh thuê trọ ở. Vợ chồng sống hạnh phúc chỉ vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, N cho rằng anh không quan tâm đến chị còn anh thì ghen tuông nghi ngờ Nhuận có người đàn ông khác, phần kinh tế thu nhập của vợ chồng không đủ chi nên luôn kình cãi nhau. Ngoài ra vợ chồng còn có mâu thuẫn lặt vặt trong cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 6/2021 cho đến nay anh và chị N không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh xác định không còn tình cảm với chị N nên yêu cầu Tòa cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh N.

Về con chung: Anh và chị N không có con chung vì từ tháng 6/2021 cho đến nay anh chị không còn chung sống với nhau và không có quan hệ tình cảm nhau. Anh xác định quan hệ giữa anh và cháu Nguyễn Việt H không có quan hệ huyết thống.

Về tài sản chung và nợ: Anh không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/8/2024, các văn bản tố tụng khác chị Nguyễn Thị Minh N trình bày: Chị và anh Nguyễn Việt L kết hôn vào tháng 4/2021, có thời gian tìm hiểu hơn 01 năm, tự nguyện đăng ký kết hôn, anh chị không có tổ chức cưới hỏi. Sau khi kết hôn, anh chị tự thuê nhà trọ ở Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chỉ vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do áp lực về kinh tế, thu nhập không đủ chi nên thường xuyên kình cãi nhau. Từ tháng 6/2021 cho đến nay mạnh ai nấy sống. Chị xác định không còn tình cảm với anh L. Nay anh L yêu cầu ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống, giữa chị và anh L không có con chung. Còn cháu tên Nguyễn Việt H, sinh ngày 02/3/2023 là con của chị với người khác.

Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến nay, tất cả các hoạt động tố tụng của Thẩm phán, các Hội thẩm, Thư ký và việc tuân thủ pháp luật của các đương sự, đều theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Việt L và chị Nguyễn Thị Minh N.

Về con chung: Anh L1 và chị N không có con chung nên miễn xét.

3

Về tài sản chung và nợ: Anh L1 và chị N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Các đương sự chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Việt L yêu cầu giải quyết cho anh ly hôn và chị Nguyễn Thị Minh N nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị N đang cư trú phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định nên theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Nguyễn Việt L và chị Nguyễn Thị Minh N đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L và chị N.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Việt L và chị NguyễnThị Minh N1 tự nguyện đi đến hôn nhân, không có tổ chức cưới hỏi, anh chị có giấy đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã N cấp, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị thuê nhà trọ sống chung hạnh phúc chỉ vài tháng rồi sau đó sống ly thân nhau. Anh L1 và chị N1 đều xác định nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, phần do áp lực về kinh tế, thu nhập không đủ chi phí nên vợ chồng thường kình cãi nhau, không ai nhường nhịn ai. Anh chị kết hôn hai bên gia đình không biết nên không có sự động viên hòa giải từ gia đình. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Từ các chứng cứ trên, thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh L1 và chị N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và cả anh chị đều xác định không còn tình cảm, thống nhất ly hôn. Do đó, theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Việt L và chị Nguyễn Thị Minh N.

[4] Về con chung: Theo Phiếu kết quả xét nghiệm ADN giữa anh Nguyễn Việt L, sinh năm 1995 và bé Nguyễn Việt H, sinh năm 2023 của Chi nhánh Viện công nghệ A và phân tích di truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận “ông Nguyễn Việt L không có quan hệ huyết thống cha con với Nguyễn Việt H”. Qua

4

chứng cứ trên, căn cứ Khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định giữa anh L và chị N không có con chung. Cháu Nguyễn Việt H không phải là con đẻ của anh L.

[5] Về tài sản chung và nợ: Anh L1 và chị N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[6] Về án phí: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí hôn nhân sơ thẩm anh L1 và chị N phải cùng chịu, trong vụ án này anh L1 tự nguyện chịu toàn bộ án phí số tiền là 150.000đ nên được khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp. Còn hoàn trả lại số tiền 150.000đ.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, 35, 39, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Áp dụng vào Điều 55 và Khoản 2 Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Việt L và chị Nguyễn Thị Minh N.
  2. Về con chung: Anh L1 và chị N không có con chung.
  3. Cháu Nguyễn Việt H, sinh ngày: 02/3/2023 không phải con đẻ của anh Nguyễn Việt L.

  4. Về tài sản chung và nợ: Anh L1 và chị N không yêu cầu giải quyết, miễn xét.
  5. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Việt L phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005294 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn. Hoàn trả lại cho anh L 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

5

5. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Việt L và chị Nguyễn Thị Minh N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND thị xã An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - UBND xã Nhơn An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 242/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Việt Linh và Nguyễn Thị Minh Nhuận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger