|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 242/2024/DS-PT
Ngày 03/6/2024
"V/v Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán: Ông Lương Phước Đại
Ông Võ Bảo Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 5 và ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp di sản thừa kế.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 380/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- -Nguyên đơn: Bà Võ Thị Á, sinh năm 1954; Địa chỉ: A, tổ E, ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Võ Thị M, sinh năm 1955; Địa chỉ: C, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 13/3/2018).
- -Bị đơn: Ông Võ Ngọc O, sinh năm 1964; Địa chỉ: A, tổ E ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Trường H, sinh năm 1976; Địa chỉ: số H đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2022).
- -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Võ Thị M, sinh năm 1955; Địa chỉ: C, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 2. Ông Võ Ngọc L, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Bà Võ Thị M, sinh năm 1955; Địa chỉ: C, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 04/12/2018).
- 3. Ông Võ Ngọc H1, sinh năm 1960; Địa chỉ: E N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- 4. Bà Võ Thị H2, sinh năm 1948; Địa chỉ: A đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
- 5.Ông Võ Ngọc H3, không rõ địa chỉ.
- 6.Bà Võ Thị P, không rõ địa chỉ.
- ·Người kháng cáo: 1.Bà Võ Thị Á là nguyên đơn
- 2.Ông Võ Ngọc O là bị đơn.
- 3.Các ông bà gồm: Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- -Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2019 của nguyên đơn Võ Thị Á trình bày:
Cha mẹ bà là ông Võ Ngọc Á1 (chết ngày 24/7/2005) và bà Lê Thị S (tên gọi khác là Lê Thị Đ, chết ngày 28/8/1997) có 06 người con gồm Võ Thị H2, Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1 và Võ Ngọc O. Lúc còn sống cha mẹ bà có tạo lập một phần đất diện tích 6.419,5m²; bao gồm các thửa 114 (diện tích 1290 m², loại đất LUC), thửa 100 (diện tích 2945m², loại đất CLN), thửa 115 + 116 (diện tích 2.173m², loại đất N+ và Q), các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 10 cũ. Thửa 100 và 114 được Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02293 ngày 15/11/1995 cho ông Võ Ngọc Á1. Thửa 115 và 116 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ngày 01/02/2021, UBND xã G có xác nhận thửa 115 tờ bản đồ số 10 cũ ghi tên chủ sử dụng đất là “Võ Ngọc Á1”, thửa 116 tờ bản đồ số 10 cũ ghi tên chủ sử dụng đất là “Ánh”.
Ngoài ra, khi cha bà còn sống bà có nghe cha bà nói ngoài mẹ bà là Lê Thị S, ông Võ Ngọc Á1 còn người vợ khác (không biết họ tên nhưng ông Á1 nói người vợ này đã chết). Ông Á1 và vợ sau có chung 02 người con là Võ Ngọc H3, Võ Thị P, bà không biết địa chỉ chỉ biết sống ở Bến Tre.
Cha mẹ bà chết không để lại di chúc, ông Võ Ngọc O chiếm giữ quyền sử dụng đất, không cho bà sử dụng đất. Nay bà khởi kiện yêu cầu được chia di sản của cha mẹ và nhận đất để có nơi sinh sống, cụ thể như sau:
- + Đối với phần di sản của bà Lê Thị S (Lê Thị Đ) thì yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho 06 người gồm Võ Thị H2, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc O, Võ Ngọc H1, Võ Thị Ánh .
- + Đối với phần di sản của ông Võ Ngọc Á1 yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho 08 người gồm Võ Thị H2, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc O, Võ Ngọc H1, Võ Thị Á, Võ Ngọc H3, Võ Thị P. Bà Á xin được tạm quản lý kỷ phần của ông H3, bà P do không xác định hai người trên hiện ở đâu. Khi ông H3 và bà P yêu cầu thì bà Á sẽ giao lại.
*Bị đơn là ông Võ Ngọc O trình bày và yêu cầu:
Phần đất tại A ấp B, xã G, huyện P có nguồn gốc của bà Võ Thị H2 mua của ông Hai N vào năm 1976. Năm 1986 bà H2 để cho cha mẹ quản lý canh tác, khi cha mẹ chết thì để lại cho ông sử dụng. Ông O thống nhất ông Võ Ngọc Á1, bà Lê Thị S có sáu người con chung gồm: Võ Thị H2, Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Ngọc O. Ngoài ra ông Võ Ngọc Á1 có hai người con riêng là Võ Ngọc H3 và Võ Thị P. Ông Võ Ngọc Á1 có lập “tờ di chúc Hương hỏa” ngày 26 tháng 6 năm 2004 và đơn xin ủy quyền quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 6 năm 2004 giao đất cho ông O quản lý và sử dụng. Từ năm 1976, ông O đã quản lý và sử dụng phần đất này. Đối với phần đất thửa 115 và 116 tờ bản đồ số 10 do ông O quản lý và sử dụng từ năm 1976 đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông O yêu cầu như sau:
- - Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa 100 và 114 tờ bản đồ số 10 theo quy định và pháp luật.
- - Yêu cầu những người được hưởng di sản thừa kế thối lại phần giá trị đối với công sức quản lý, bảo quản, gìn giữ và duy trì di sản thừa kế cho ông Võ Ngọc O.
- - Yêu cầu công nhận cho ông O quyền sử dụng thửa 115, 116 tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ
- - Yêu cầu Võ Ngọc O tiếp tục quản lý sử dụng kỷ phần của Võ Ngọc H3 và Võ Thị P.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- - Bà Võ Thị M trình bày: thống nhất ý kiến của bà Võ Thị Á, yêu cầu được nhận đất. Bà không đồng ý bồi thường giá trị cây trồng trên đất và công sức đóng góp, chi phí mai táng, phụng dưỡng cha mẹ cho bị đơn. Bà yêu cầu tách phần diện tích bị thu hồi thành vụ kiện khác.
- - Ông Võ Ngọc L có người đại diện theo ủy quyền là bà M trình bày: thống nhất ý kiến của bà Á, ông yêu cầu được nhận đất. Ông không đồng ý bồi thường giá trị cây trồng trên đất và công sức đóng góp, chi phí mai táng, phụng dưỡng cha mẹ cho bị đơn. Ông yêu cầu tách phần diện tích bị thu hồi thành vụ kiện khác.
- - Bà Võ Thị H2 trình bày: thống nhất ý kiến của bà Á, bà H2 yêu cầu được hưởng 1/6 diện tích đất được hưởng thừa kế của cha mẹ bà đồng thời yêu cầu được nhận đất. Bà không đồng ý bồi thường giá trị cây trồng trên đất và công sức đóng góp, chi phí mai táng, phụng dưỡng cha mẹ cho bị đơn. Bà yêu cầu tách phần diện tích bị thu hồi thành vụ kiện khác.
- - Ông Võ Ngọc H1, có người đại diện theo ủy quyền là bà Y trình bày: thống nhất ý kiến của bà Á, ông yêu cầu được nhận đất. Ông không đồng ý bồi thường giá trị cây trồng trên đất và công sức đóng góp, chi phí mai táng, phụng dưỡng cha mẹ cho bị đơn. Ông yêu cầu tách phần diện tích bị thu hồi thành vụ kiện khác
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 04 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với thửa 100 (LUC) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02293 cấp ngày 15/11/1995 ông O được hưởng 338m²; bà Võ Thị H2 được hưởng 363,2m²; ông Võ Ngọc L được hưởng 384,1m²; ông Võ Ngọc H1 được hưởng 406,7m²; bà Võ Thị M được hưởng 448m² và bà Võ Thị Á được hưởng 323,5m²
- Buộc ông Võ Ngọc O giao cho bà Võ Thị H2 quyền sử dụng đất diện tích 363,2m² tại vị trí B; giao cho ông Võ Ngọc L quyền sử dụng đất diện tích 384,1m² tại vị trí C, giao cho ông Võ Ngọc H1 quyền sử dụng đất diện tích 406,7m² tại vị trí D, giao cho bà Võ Thị M quyền sử dụng đất diện tích 448m² tại vị trí E, giao cho bà Võ Thị Á quyền sử dụng đất diện tích 323,5m² tại vị trí H.
- Những người thừa kế: bà H2 có nghĩa vụ trả lại giá trị đất là 3.310.700 đồng, ông L có nghĩa vụ trả lại giá trị đất là 5.400.700 đồng, ông H1 có nghĩa vụ trả lại giá trị đất là 7.660.700 đồng, bà M có nghĩa vụ trả lại giá trị đất là 11.790.700 đồng, ông O có nghĩa vụ trả lại giá trị đất là 790.700 đồng cho bà P, ông H3. Giao cho bị đơn quản lý kỷ phần thừa kế đất lúa (số tiền mà những người thừa kế thối lại giá trị) (LUC, thửa 100) của ông H3, bà P.
- Ông Võ Ngọc O được quyền sử dụng đất diện tích 3.148m², thửa 114 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02293 cấp ngày 15/11/1995) và thửa 116, quyền sở hữu căn nhà trên phần đất này. Ông O có nghĩa vụ trả lại giá trị đất cho là bà Võ Thị Á, bà Võ Thị M, ông Võ Ngọc L, bà Võ Thị H2, ông Võ Ngọc H1 mỗi người là 55.089.600 đồng (01 kỷ phần thừa kế). Giao cho bị đơn quản lý kỷ phần thừa kế đất trồng cây lâu năm (CLN) của ông H3, bà P mỗi người là 23.610.000 đồng
- Giao thửa 115 (đất nghĩa địa) có diện tích 315m² cho ông O tiếp tục quản lý, ông O không phải trả giá trị cho những người đồng thừa kế.
- Không chấp nhận yêu của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn, người liên quan bồi thường tiền mai táng phí của cha mẹ, tiền công quản lý di sản, tiền phụng dưỡng cha mẹ và bồi thường cây trồng. Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
- Tách phần đất bị thu hồi có diện tích 675,2m² tại vị trí F và 17,8m² tại vị trí G, thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02293 cấp ngày 15/11/1995 cho ông Võ Ngọc Á1 đứng tên thành vụ kiện khác.
Phần đất nêu trên tọa lạc tại A ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
(Kèm theo các Bản trích đo địa chính của Hội đồng xét xử, Bản trích đo địa chính số 67/TTKTTNMT ngày 31/8/2022, số 319 ngày 14/4/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C ).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Võ Thị Á nộp 4.404.800 đồng, khấu trừ 4.217.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 003614 ngày 01/10/2014, biên lai số 004379 ngày 27/5/2016 và biên lai số 005253 ngày 21/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, bà Á phải nộp thêm 187.300 đồng.
- - Bà Võ Thị M nộp 4.404.800 đồng, khấu trừ 2.317.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 003694 ngày 28/11/2014 và biên lai số 004381 ngày 27/5/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, bà M phải nộp thêm 2.087.300 đồng.
- - Ông Võ Ngọc L nộp 4.404.800 đồng, khấu trừ 2.317.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 003693 ngày 28/11/2014 và biên lai số 004380 ngày 27/5/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, ông L phải nộp thêm 2.087.300 đồng.
- - Ông Võ Ngọc O nộp 4.404.800 đồng.
- - Bà Võ Thị H2 nộp 4.404.800 đồng.
4. Chi phí đo đạc, định giá: bà Á, ông O mỗi người chịu 1.750.000 đồng, bà Á đã đóng tạm ứng 3.500.000 đồng nên ông O phải hoàn trả 1.750.000 đồng cho bà Á.
Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo và đơn kháng cáo bổ sung, nguyên đơn là bà Võ Thị Á và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Võ Thị M, Võ Ngọc H1, Võ Ngọc L, Võ Thị H2 cho rằng bản án sơ thẩm phân chia di sản chưa vô tư khách quan. Yêu cầu được chia hiện vật, đổi phần đất A cho phần đất H để các ông bà đồng sử dụng, mở lối đi từ thửa 114 vào mộ để cùng đồng sử dụng cho mục đích thờ cúng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 14/4/2023, bị đơn là ông Võ Ngọc O cho rằng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến năng lực hành vi dân sự của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chia thừa kế theo giá trị là không đúng, không xác định giá trị cây trồng và không phân định quyền sử dụng đất rạch ròi giữa phần được chia và phần giao quản lý hộ người vắng mặt. Do vậy, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày17/4/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền cho rằng bản án sơ thẩm chia thừa kế chưa đảm bảo đầy đủ quyền lợi của các đương sự, chưa tính toán giá trị
cây trồng và chưa tính án phí đối với các đương sự phải chịu án phí nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên giữ nguyên kháng cáo, không có phương án hoà giải tranh chấp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích các tình tiết, sự kiện của vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng việc thiếu sót về xác định cây trồng trên đất đã được Toà án cấp phúc thẩm khắc phục. Về việc phân chia di sản cần ưu tiên việc phân chia hiện vật theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự. Đề nghị phân chia cho ông O phần đất tại thửa 114 và phần đất H4 Thửa 115 dùng làm tài sản chung thờ cúng. Các anh chị em cùng cha cùng mẹ với ông O được chia các phần còn lại. Ông H3, bà P được hưởng giá trị bằng tiền do các thừa kế hoàn lại. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh chấp di sản thừa kế. Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo các quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Cụ Võ Ngọc Á1 chết năm 2005 và cụ Lê Thị S chết năm 1997. Các cụ không để lại di chúc hợp pháp. Theo quy định tại các Điều 650 Bộ luật dân sự thì di sản của cụ Á1 và cụ S được chia theo pháp luật.
[3] Bị đơn đặt ra vấn đề về năng lực hành vi dân sự của nguyên đơn và bà H2. Thấy rằng, quá trình tranh chấp kéo dài, vụ án đã được xét xử và bị huỷ án nhiều lần nhưng suốt quá trình đó, bị đơn không yêu cầu Toà án tuyên bố mất năng lực, hạn chế hành vi dân sự đối với những người này. Tài liệu hồ sơ thể hiện, nguyên đơn và bà H2 uỷ quyền có công chứng, trong đó có xác định rõ năng lực hành vi dân sự nên không có cơ sở xác định vấn đề mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự như bị đơn đề cập.
[4] Theo sự thừa nhận của các bên đương sự thì cụ ông Võ Ngọc Á1 và cụ bà Lê Thị S có 06 người con gồm: Võ Thị H2, Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Ngọc O. Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật dân sự thì 06 người con này được hưởng di sản của cụ Á và cụ S để lại. Võ Ngọc H3 và Võ Thị P là con riêng của cụ ông Võ Ngọc Á1. Do ông Võ Ngọc H3 và bà Võ Thị P không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng cụ Lê Thị S nên ông H3, bà P không được hưởng di sản của cụ S mà chỉ được hưởng phần di sản của cụ Á1 để lại theo các quy định tại các Điều 654 Bộ luật dân sự.
[5] Thửa đất số 100 và 114 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Võ Ngọc Á1. Thửa 115 và thửa 116, bị đơn là ông Võ Ngọc O yêu cầu
công nhận quyền sử dụng đất cho ông O vì đã sử dụng từ năm 1976 đến nay. Thấy rằng, các thửa đất này có nguồn gốc là của cụ Á1 và cụ S. Ngày 01/02/2021, Ủy ban nhân dân xã G cũng đã xác nhận về nguồn gốc này. Do vậy, thửa 115 và thửa 116 là di sản thừa kế do cụ Á1 và cụ S để lại. Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này của bị đơn không được chấp nhận.
[6] Thửa đất 115, có diện tích 315 m² hiện tại là khu mộ gia đình. Bị đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng của riêng mình. Những người con chung còn lại của cụ Á1 và cụ S yêu cầu đồng sở hữu để thờ cúng. Do vậy, thửa đất 115 không dùng làm tài sản phân chia mà công nhận sở hữu chung cho tất cả những người con của ông Á1, bà S bao gồm cả ông H3, bà P.
[7] Theo sơ đồ hiện trạng, thửa đất 115 bị bao bọc bởi thửa 116. Nguyên đơn yêu cầu mở lối đi từ thửa 114 đi vào mộ. Bị đơn yêu cầu mở lối đi từ thửa 100 đi vào mộ. Hội đồng xét xử thấy rằng, lối đi được mở sẽ là quyền sử dụng chung cho tất cả người thừa kế hàng thứ nhất của cụ Á1, cụ S và đảm bảo thuận lợi cho tất các người con về thực hiện việc viếng mộ, thờ cúng, trong đó có cả ông H3, bà P. Với yêu cầu đó thì việc mở lối đi từ thửa 114 như yêu cầu của nguyên đơn sẽ thuận tiện hơn và còn đảm bảo quyền đi vào cho ông H3, bà P nên chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn.
[8] Thửa đất số 100 đã bị thu hồi để làm đường Tỉnh 918. Sau khi xét xử sơ thẩm, một phần đất thuộc thửa 100 đã có quyết định thu hồi đất số 5526/QĐ-UBND ngày 25/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P. Toà án cấp sơ thẩm tách phần tài sản này thành vụ kiện khác, các bên không kháng cáo việc tách vụ án nên Toà phúc thẩm không xem xét.
[9] Nguyên đơn và bị đơn kháng cáo yêu cầu chia bằng hiện vật. Đây là yêu cầu hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Do đặc điểm phần đất cần phân chia có hình thể phức tạp và cần chia cho nhiều người thừa kế với các phần được hưởng không đồng đều nên cần tạm tính giá trị thành tiền các thừa kế được hưởng để từ đó phân chia hiện vật và đối trừ giá trị phù hợp.
[10] Từ các nhận định tại các mục [5], [6], [7], [8] cho thấy, di sản là quyền sử dụng đất được phân chia thừa kế gồm: 1.159,1 m² tại thửa 114 (đã trừ diện tích 130,9 m² lối đi vào mộ); 1.827,7 m² tại thửa 116 (đã trừ diện tích 30,3 m² lối đi vào mộ); 3.280 m² tại thửa 100. Theo Biên bản định giá ngày 19/12/2023 thì tổng giá trị các quyền sử dụng đất vừa nêu có giá thị trường là 4.773.400.000 đồng.
[11] Theo nhận định tại mục [10] thì giá trị di sản do cụ S để lại là 4.773.400.000 đồng/2 = 2.386.700.000 đồng. Các ông bà gồm: H2, Á1, M, L, H1 và O được hưởng di sản từ cụ S phần di sản tương ứng 2.386.700.000 đồng/6 = 397.783.333 đồng. Giá trị di sản do cụ Á1 để lại là 4.773.400.000 đồng/2 = 2.386.700.000 đồng. Các ông bà gồm: H2, Á1, M, L, H1, O, H3 và P được hưởng phần di sản tương ứng 2.386.700.000 đồng/8 = 298.337.500 đồng. Như vậy, khi phân chia, các ông bà gồm: H2, Á1, M, Là, H1 và O sẽ hưởng giá trị ước tính sẽ
là 397.783.333 đồng + 298.337.500 đồng = 696.120.883 đồng. Bà P, ông H3, mỗi người được hưởng 298.337.500 đồng.
[12] Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu giao phần đất H cho bị đơn, phần đất A cho nguyên đơn cùng các ông bà M, L, H1, H2 cùng đứng tên chung. Xét thấy các phần đất B, C, D, E đã được bản án sơ thẩm giao cho ông bà M, Là, H1, H2 nên việc giao phần đất A liền kề cho nguyên đơn để cùng sở hữu chung là thuận tiện và tăng giá trị sử dụng. Đồng thời phần đất H có diện tích mặt tiền lớn giao cho bị đơn là có lợi về mặt lâu dài cho bị đơn. Cũng từ yêu cầu này, căn cứ vào hiện trạng, yêu cầu của các bên, Hội đồng xét xử phân chia cụ thể: Bị đơn là ông Võ Ngọc O được chia phần đất 1.159,1m² tại thửa 114 (không bào gồm phần diện tích 130,9 m² lối đi vào mộ) và 323,5m² tại vị trí H4 Nguyên đơn và các ông bà M, L, H1, H2 được chia 1.827,7m² tại thửa 116 (không bào gồm diện tích 30,3m² lối đi vào mộ) và các phần đất ký hiệu A, B, C, D, E. Ông Võ Ngọc H3 và bà Võ Thị P, mỗi người được hưởng bằng tiền là 298.337.500 đồng. Số tiền này do các nguyên đơn, bị đơn và ông bà M, L, H1, H2 giao trả tương ứng. Cụ thể, mỗi người hoàn lại cho ông H3 49.723.000 đồng, cho bà P 49.723.000 đồng.
[13] Giá trị phần đất thửa 114 và phần H đã giao cho ông O như trên vượt giá trị được hưởng theo phần của ông O là 206.712.500 đồng. Tuy nhiên, theo lời khai của các bên cho thấy, ông O là người quản lý, giữ gìn di sản từ trước đến nay, với thời gian dài nên được hưởng giá trị là công sức giữ gìn di sản, theo Án lệ số 05/2016/AL. Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử xác định giá trị công sức giữ gìn di sản bằng số tiền chệnh lệch trên và khấu trừ hết số tiền chệnh lệch này, tương đương 4,33% tổng giá trị di sản.
[14] Về tài sản trên đất, trên thửa đất 114 có căn nhà tạm của bà Võ Thị H2. Bị đơn xuất trình tài liệu về việc bà H2 xin ở nhờ. Trong văn bản ở nhờ có cam kết về việc tự tháo dỡ của bà H2 nên bà H2 có trách nhiệm tháo dỡ nhà tạm này để giao đất cho ông O. Phần đất lối đi vào là một phần thửa 114 và toàn bộ diện tích thửa 115 là quyền sử dụng chung của tất cả những người thừa kế. Trên lối đi và trên phần đất 115 có cây trồng của bị đơn được định giá là 55.589.000 đồng. Mỗi người thừa kế gồm các ông bà Á1, M, L, H1, H2, H3 và P, mỗi người hoàn lại cho ông O 6.936.000 đồng. Giá trị cây trồng trên thửa đất 116 và các phần đất A,B,C,D,E do ông O trồng có giá trị 97.514.000 đồng. Các phần đất này được giao cho các ông bà Á1, M, L, H1, H2 nên mỗi người có trách nhiệm hoàn trả cho ông O số tiền 19.502.800 đồng.
[15] Như nhận định tại mục [8], phần đất bị thu hồi đã có quyết định bồi thường số 5524/QĐ-UBND ngày 25/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P. Theo đó, số tiền bồi thường về đất và khen thưởng là 421.884.975 đồng, bồi thường hoa màu là 38.211.500 đồng (không có chế độ tái định cư). Toà án sơ thẩm tách phần yêu cầu này thành vụ kiện khác, các đương sự không kháng cáo việc tách vụ án nên Toà án cấp phúc thẩm không xem xét. Tuy nhiên, với nguyên tắc phân chia trên, số tiền mỗi ông, bà gồm Võ Ngọc H3, Võ Thị P được hưởng là 26.367.810,9375 đồng. Số tiền mỗi ông, bà gồm Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2 được hưởng là 61.524.892,1875 đồng. Số tiền ông Võ
Ngọc O được hưởng là 99.736.392,1875 đồng. Các bên có thể tham khảo giá trị phân chia này để thoả thuận nhận tại cơ quan giải quyết bồi thường.
[16] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các ông bà Á, O, M, L, H1, H2 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[17] Về án phí dân sự phúc thẩm, do yêu cầu kháng cáo của các bên được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[18] Về chi phí đo đạc định giá: chi phí đo đạc định giá ở cấp sơ thẩm là 3.500.000 đồng, do nguyên đơn tạm ứng. Chi phí đo đạc ở cấp phúc thẩm 6.500.000 đồng, do nguyên đơn tạm ứng. Chi phí thẩm định cây trồng trên đất là 3.300.000 đồng, do bị đơn tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần nên mỗi bên chịu một nữa các chi phí trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Sửa bản án sơ thẩm.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phân chia di sản thừa kế của cụ Võ Ngọc Á1 và bà Lê Thị S để lại như sau:
- -Quyền sử dụng đất tại thửa đất 115 và lối đi vào mộ (3.0 m) bắt đầu từ đường GTNT (3.0m) đến thửa 115 là quyền sử dụng đất chung của các ông bà Võ Thị Á, Võ Ngọc O, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2, Võ Thị P và Võ Ngọc H3.
- -Giao 1.827,7m² đất tại thửa đất 116 (không bao gồm diện tích 30,3m² lối đi vào mộ) và các phần đất A, B, C, D, E cho các ông bà Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1 và Võ Thị H2 đồng sử dụng chung.
- -Giao 1.159,1m² tại thửa 114 (không bao gồm phần diện tích 130,9m² lối đi vào mộ) và phần đất H cho ông Võ Ngọc O sử dụng.
- Bà Võ Thị H2 có nghĩa vụ tháo dỡ nhà tạm tại vị trí (t) để giao trả quyền sử dụng đất cho ông O.
- -Cây trồng trên các phần đất tương ứng được phân chia nêu trên thuộc sở hữu của những người được phân chia tương ứng. Số cây, loại cây được xác định theo Biên bản định giá tài sản ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản do Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ thành lập.
- -Vị trí, diện tích đất được xác định theo Bản trích đo địa chính số 121/TTKTTNMT ngày 07/02/2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
- Các đương sự được quyền đăng ký biến động, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- -Mỗi ông, bà gồm: Võ Thị Á, Võ Ngọc O, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2 hoàn lại cho ông Võ Ngọc H3 số tiền 49.723.000 đồng.
- -Mỗi ông, bà gồm: Võ Thị Á, Võ Ngọc O, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2 hoàn lại cho ông Võ Thị P số tiền 49.723.000 đồng.
- -Mỗi ông, bà gồm: Võ Thị Á, Võ Thị M, Võ Ngọc L, Võ Ngọc H1, Võ Thị H2 có trách nhiệm hoàn lại cho ông Võ Ngọc O số tiền 26.438.800 đồng.
- -Mỗi ông, bà gồm: Võ Ngọc H3, Võ Thị P hoàn lại cho ông Võ Ngọc O số tiền 6.936.000 đồng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- -Ông Võ Ngọc H3 chịu 2.486.000 đồng.
- -Bà Võ Thị P chịu 2.486.000 đồng.
- -Bà Võ Thị Á được nhận lại 4.217.500 đồng theo các Biên lai thu tiền tam ứng án phí số 003614 ngày 01/10/2014, Biên lai số 004379 ngày 27/5/2016 và Biên lai số 005253 ngày 21/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Bà Võ Thị M được nhận lại 2.317.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai số 003694 ngày 28/11/2014 và Biên lai số 004381 ngày 27/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- - Ông Võ Ngọc L được nhận lại 2.317.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai số 003693 ngày 28/11/2014 và biên lai số 004380 ngày 27/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
- -Bà Võ Thị Á được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007881 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- -Bà Võ Thị M được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007882 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- -Bà Võ Thị H2 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007878 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- -Ông Võ Ngọc H1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007880 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- -Ông Võ Ngọc L được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007879 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- -Ông Võ Ngọc O được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007891 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Về chi phí đo đạc, định giá: Ông Võ Ngọc O hoàn lại cho bà Võ Thị Á số tiền 3.350.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chế Linh |
Bản án số 242/2024/DS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 242/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chấp thừa kế với BĐ
