Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

Bản án số: 242/2021/HN-ST
Ngày: 30-7-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trí
  2. Đào Thị Thu Vân

Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Diễm Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Số 595, tổ 16, ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 595, tổ 16, ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày, ông và bà L tự nguyện tìm hiểu và sống chung vào năm 2001, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2004 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ ông gây nợ nần nhiều lần, ông phải đứng ra trả và tha thứ. Cuối năm 2019 vợ bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, ông yêu cầu được ly hôn với bà L.

Về con chung: Ông T xác định vợ chồng có 02 con chung tên Phạm N H, sinh ngày 03/5/2003 đã thành niên; Phạm H N, sinh ngày 14/7/2012, hiện đang sống chung với ông. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L trong quá trình giải quyết đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của ông T và triệu tập hợp lệ, nhưng bà không có ý kiến và vắng mặt trong các buổi công khai chứng cứ, hòa giải, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa, ông Phạm Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Bà Nguyễn Thị Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 để tham gia phiên tòa, nhưng bà vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T xin ly hôn bà Nguyễn Thị Kim L. Về quan hệ con chung: Ông T được tiếp tục nuôi cháu Phạm H N, sinh ngày 14/7/2012. Bà L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về hình thức: Ông Phạm Văn T khởi kiện xin ly hôn bà Nguyễn Thị Kim L có nơi cư trú ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Bà Nguyễn Thị Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 để tham gia phiên tòa, nhưng bà vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim L là có căn cứ.

[2]- Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Phạm Văn T sống chung vào năm 2001 và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống đến năm 2004 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ ông gây nợ nần nhiều lần, ông phải đứng ra trả và tha thứ. Cuối năm 2019 vợ bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2019 đến nay không tới lui thăm nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, ông T xin ly hôn bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, bà L và ông T kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của ông T và triệu tập hợp lệ bà L để giải quyết, nhưng bà không có ý kiến và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ tình cảm của bà L đối với ông T không còn, mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu của ông T phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và có cơ sở chấp nhận.

[2.1]- Về quan hệ con chung: Ông T xác định vợ chồng có 02 con chung tên Phạm N H, sinh ngày 03/5/2003 đã thành niên; Phạm H N, sinh ngày 14/7/2012, hiện đang sống chung với ông. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nuôi con phải được xem xét trên cơ sở sự ổn định, điều kiện nuôi dưỡng về vật chất, cũng như tinh thần, đảm bảo cho con chung phát triển tốt, trở thành công dân có ích cho xã hội. Hiện nay cháu N đang sống, học tập ổn định với ông bà nội và ông T. Bên cạnh đó, ông có công việc và thu nhập ổn định có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu N và cháu có nguyện vọng sống với ông T sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường và ổn định trong cuộc sống không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu N sau khi cha mẹ ly hôn, nên yêu cầu của ông T về việc nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của cháu N là có cơ sở chấp nhận. Do ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung: Ông T xác định vợ chồng không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.4]- Về nợ chung: Ông T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T xin ly hôn bà Nguyễn Thị Kim L.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 183 ngày 14/12/2004 của Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Ông Phạm Văn T được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm H N, sinh ngày 14/7/2012, hiện đang sống chung với ông. Cháu Phạm N H sinh ngày 03/5/2003 đã thành niên.

Bà Nguyễn Thị Kim L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Ghi nhận ông T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà L, ông T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Ông Phạm Văn T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0002738 ngày 10/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND huyện Chợ Mới;
- Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
- Các đương sự;
- UBND TT Mỹ Luông;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Công Đức
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2021/HN-ST ngày 30/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 242/2021/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger