|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 241/2024/DS – ST Ngày: 31/07/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đàm Vân
Ông Bùi Hoàng Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản”. Tuyên án ngày 31 tháng 07 năm 2024.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 102/2024/QĐST-DS QĐST-DS ngày 26 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dư Quốc T, sinh năm: 1944 (có mặt)
Địa chỉ: D C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng H, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 09/11/2022) (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Minh T1 – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị đơn: Bà Mai Phương T2, sinh năm: 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Đường H, Khu phố G, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 139 Lô T, chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đặng Thùy T3, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 19/09/2014 và Giấy ủy quyền ngày 04/03/2020) (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân H1 – Văn phòng luật sư Nguyễn Thị Xuân H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Phương N, sinh năm: 1960 (có mặt)
- Công ty TNHH T13
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1965 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm: 1968 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Trọng T5, sinh năm: 1975 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Bùi Phương L, sinh năm:1961 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Phan Sỹ T6, sinh năm: 1959 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Hà Thị T7, sinh năm: 1957 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Phan Tuấn A, sinh năm:1996 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 2 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ trụ sở chính: 2 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Phương N, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày số 03/2020/GUQ-BM ngày 07/9/2020) (có mặt)
Địa chỉ: 4 T, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 6 ấp L, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng H, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 01/12/2022) (có mặt)
Địa chỉ: C Tổ A, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 1 đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 22/08/2009, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Dư Quốc T và đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Ngày 10/11/2008, ông Dư Quốc T cho bà Mai Phương T2 vay số tiền là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Bà T2 có thế chấp cho ông T giấy tờ Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Căn nhà số A T) do bà T2 đứng tên chủ sở hữu. Thời hạn vay 2 năm kể từ ngày ký, hai bên thoả thuận lãi suất là 2%/tháng.
Đối với Căn nhà số A T bà T2 có ký ủy quyền tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông T được toàn quyền quản lý, sử dụng, cho thuê, cho mượn, thế chấp hoặc bán, thời hạn là 5 năm kể từ ngày ký.
Đầu năm 2009, ông Dư Quốc T cần vốn làm ăn nên có nhờ bà T2 ký giấy cho mượn thế chấp Căn nhà số A T để vay 800.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 08/2009, ông Dư Quốc T đã chủ động thanh lý hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng Đ. Theo thoả thuận hai bên đồng ý cho ông Bùi Xuân T8 (nhân viên ngân hàng) với tư cách cá nhân giữ bản chính giấy tờ Căn nhà số A T cho đến khi Tòa án giải quyết. Năm 2010, các bên thống nhất giao lại cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 giữ các bản chính giấy tờ nhà.
Từ ngày mượn tiền đến nay bà T2 chưa trả tiền vốn và tiền lãi cho ông T. Ngày 05/10/2009 ông T đã khởi kiện bà T2 tại Toà án nhân dân Quận 10. Ngày 30/09/2009, Toà án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm vụ án theo Bản án số: 45/2010/DS-ST có nội dung: Buộc bà Mai Phương T2 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền vay 2.000.000.000 đồng cho ông Dư Quốc T vào ngày 31/12/2010. Bà T2 đã kháng cáo bản án này.
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, ông T không yêu cầu bà T2 trả tiền lãi vì phía bà T2 có cam kết miệng riêng với ông T là khi có bản án sơ thẩm sẽ trả tiền vốn ngay cho ông T. Không ngờ sau khi có bản án, bà T2 lại kháng cáo kéo dài thời hạn thanh toán.
Ngày 28/03/2012, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án theo Bản án số: 271/2012/DS-TP đã huỷ bản án sơ thẩm số 45/2010/DS-ST ngày 30/09/2009 giao về Toà án nhân dân Quận 10 thụ lý giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm.
Nay ông T yêu cầu bà T2 trả cho ông T số nợ như sau:
+ Tiền nợ gốc chưa trả: 2.000.000.000 đồng
+ Tổng cộng tiền lãi tạm tính đến ngày 01/04/2024 là: 960.000.000 đồng + 1.075.000.000 đồng + 2.888.400.000 đồng = 4.923.400.000 đồng;
Tổng số tiền bà T2 còn nợ ông T là: 2.000.000.000 đồng + 4.923.400.000 đồng = 6.923.400.000 đồng;
+ Tiền thuê nhà là: 4.000.0000 đồng x 189 tháng = 756.000.000 đồng;
+ Tổng số tiền sửa chữa nhà là: 319.000.000 đồng + 40.000.000 đồng = 359.000.000 đồng;
Tổng số tiền nợ (gốc + lãi) – tổng số tiền cho thuê nhà + tổng số tiền sửa chữa nhà => 6.923.400.000 đồng - 756.000.000 đồng + 359.000.000 đồng = 6.526.400.000 đồng. Yêu cầu bà T2 trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Ý kiến về yêu cầu phản tố của bà Mai Phương T2: Ông T chỉ đồng ý trả Căn nhà số A T khi bà T2 phải trả đủ số tiền nợ gốc và tiền lãi cho ông T.
* Bị đơn – Bà Mai Phương T2 và đại diện là bà Đặng Thùy T3 trình bày:
Theo giấy nhận nợ ngày 10/11/2008, bà Mai Phương T2 chỉ đồng ý trả cho ông Dư Quốc T số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định là 10%/năm, tính từ 10/11/2010 đến 10/04/2024 (13 năm 5 tháng) thì tổng tiền lãi là 2.680.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi là 2.000.000.000 đồng + 2.680.000.000 đồng = 4.680.000.000 đồng.
Bà T2 phản tố yêu cầu ông T phải trả lại Căn nhà số A T và tiền cho thuê nhà mỗi tháng 5.000.000 đồng tính trên 189 tháng x 5.000.000 đồng= 945.000.000 đồng.
Như vậy bà T2 chỉ chấp nhận trả cho ông T số tiền còn lại là: 4.680.000.000 đồng - 945.000.000 đồng = 3.735.000.000 đồng.
- Về tiền sửa chữa nhà ông T yêu cầu bà T2 trả số tiền 359.000.000 đồng, bà T2 không đồng ý, vì trước đây ông T không có yêu cầu này và khi sửa chữa không được sự đồng ý của bà T2.
- Về yêu cầu của ông Nguyễn Hữu V: Trước đây khi còn thân thiết, bà T2 có nhờ ông T bảo lãnh mua tủ thờ và bộ ghế bàn ghế gỗ trị giá 77.000.000 đồng của chủ cửa hàng là ông Nguyễn Hữu V. Bà T2 đã trả 20.000.000 đồng, còn nợ lại cửa hàng số tiền 57.000.000 đồng. Ông T yêu cầu bà T2 trả tiền nhưng do nay người bán nói chưa nhận được tiền, nên bà T2 không đồng ý trả cho ông T số tiền 57.000.000 đồng này mà chỉ đồng ý trả số tiền này cho chủ cửa hàng là ông Nguyễn Hữu V.
* Bà Phạm Thị Phương N tình bày:
Bà N xác định bà T2 không nợ ông T số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 mà số tiền này là bà N nợ ông T.
Nay nếu bà T2 đồng ý trả số tiền 2.000.000.000 đồng mà bà T2 ký nhận nợ ngày 10/11/2008 với ông T thì ông T phải trừ số tiền 2.000.000.000 đồng và tiền lãi mà bà T2 trả cho ông T vào khoản nợ gốc giữa ông T và bà N trong vụ án ông T đòi nợ bà N 20,4 tỉ đồng.
* Đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T13 – bà Phạm Thị Phương N trình bày:
Với tư cách là đại diện theo ủy quyền của Công ty T13, bà N có cùng ý kiến như bà N đã trình bày với tư cách là cá nhân bà N.
* Đại diện ông Nguyễn Hữu V là ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Bà T2 có nhờ ông T bảo lãnh mua tủ thờ và bộ ghế salon trị giá 77.000.000 đồng của cửa hàng ông Nguyễn Hữu V. Bà T2 đã trả 20.000.000 đồng, còn nợ lại cửa hàng số tiền 57.000.000 đồng. Do trị giá của bộ đồ gỗ hiện nay đã khác, nên ông V yêu cầu bà T2 phải trả cho ông V số tiền bộ ghế gỗ là 100.000.000 đồng.
* Bà Nguyễn Thị T4: Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đã có ý kiến trình bày:
Bà T4 quen biết bà Mai Phương T2 từ hồi đi học. Năm 1992, bà T4 quen bà Phạm Thị Phương N do làm chung công ty, bà T2 cũng làm chung nên 03 người chơi với nhau. Còn ông T, bà T4 quen gia đình từ hồi còn ở quê Nam Định.
Do mối quan hệ quen biết với bà N và ông T như vậy nên bà T4 là người giới thiệu cho bà N vay tiền của ông T bắt đầu từ năm 2008. Việc thỏa thuận vay tiền, tiền lãi, số tiền vay, cách thức trả tiền thế nào do bà N và ông T tự thỏa thuận, bà T4 không tham gia, không biết và không liên quan.
Việc bà T2 vay tiền của ông T, bà T4 cũng không tham gia, không biết và không liên quan.
* Ông Nguyễn Trọng T5 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đã có ý kiến trình bày:
Năm 2010 ông T5 nhận sửa chữa Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông T theo Hợp đồng ngày 02/02/2010. Tổng số tiền sửa chữa nhà là: 319.000.000 đồng + 40.000.000 đồng = 359.000.000 đồng. Ông T trả đủ cho ông T5 số tiền sửa chữa nhà. Tranh chấp giữa ông T và bà T2 về việc sửa chữa nhà ông T5 không liên quan nên không có ý kiến. Ông T5 không có yêu cầu gì trong vụ án.
* Bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đã có ý kiến trình bày:
Ông T cho gia đình bà L thuê nhà Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 07/2009. Gia đình bà L có ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A cùng ở tại căn nhà này từ tháng 07/2009 cho đến nay. Giá thuê hàng tháng là 4.000.000 đồng ổn định cho đến nay bà L đã thanh toán đầy đủ cho ông T.
Bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A chỉ thuê ở chứ không có quyền gì đối với Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và đồng ý giao nhà trong trường hợp bán hoặc phát mãi tài sản.
* Các vấn đề khác:
Ông Dư Quốc T đã khởi kiện bà Mai Phương T2 yêu cầu trả tiền theo Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 từ năm 2009, được Tòa án nhân dân Quận 10 thụ lý giải quyết số: 116/2009/TLST-DS ngày 05/10/2009 và xét xử sơ thẩm vụ án theo Bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2010/DS-ST ngày 30/09/2010. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2010/DS-ST ngày 30/09/2010 của Tòa án nhân dân Quận 10 (Bản án phúc thẩm số: 271/2012/DS-PT ngày 28/03/2012). Tòa án nhân dân Quận 10 thụ lý giải quyết lại vụ án thụ lý số: 124/2012/TLST-DS ngày 25/05/2012. Sau đó, giữa Tòa án nhân dân Quận 10 và Tòa án nhân dân Quận 7 có chuyển hồ sơ qua lại về thẩm quyền giải quyết vụ án. Hiện nay, vụ án đã xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 và được thụ lý số: 32/2022/TLST-DS ngày 10/02/2022.
* Tại phiên tòa:
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Lê Minh T1 trình bày:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn dựa vào chứng cứ là giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 bà Mai Phương T2 đã thừa nhận viết và ký ghi rõ họ tên bên người lập giấy nhận nợ.
Qua các lời khai của ông T1, bà N, bà T2 và cả đại diện cho bà T2 đều thừa nhận số tiền gốc chưa trả là 2.000.000.000 đồng và là hợp đồng vay tài sản có lãi, có thời hạn, mức lãi suất là 2%/tháng.
Do việc vay mượn từ năm 2008 nên tiền lãi tính theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
+ Khoản lãi thứ nhất: Là lãi trong hạn
T9 lãi từ ngày 10/11/2008 đến ngày 10/11/2010 là 24 tháng, ông T1 thừa nhận đã nhận lãi 05 tháng, như vậy số tháng chưa trả lãi là 19 tháng. Theo thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng. Mức lãi suất là 2%/tháng sẽ được tính lại theo quy định tại khoản 1 điều 476 BLDS 2005 và tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị Quyết 01/2019 NQ-HĐTP. Mức lãi suất được quy định là 150% của 9%/năm là 13.5%/năm = 1,125%/ tháng. Số tiền lãi là: 2.000.000.000 đ x 1,125% x 19 tháng = 427.500.000 đồng.
+ Khoản lãi thứ hai: Tiền lãi từ ngày 11/11/2010 đến ngày 01/01/2017 là 73 tháng. Mức lãi suất theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị Quyết 01/2019 là: 9%/ năm = 0,75%/ tháng. Số tiền lãi là : 2.000.000.000 đ x 0,75% x 73 tháng = 1.095.000.000 đồng.
Tiền lãi tính theo quy định của BLDS năm 2015 như sau :
+ Khoản tiền lãi thứ nhất: Tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày xét xử 24/07/2024, theo quy định tại khoản 1 điều 468 BLDS 2015, là 90 tháng. Mức lãi suất theo quy định 20%/ năm = 1,66 % / tháng. Số tiền lãi là : 2.000.000.000 đ x 1,66% x 90 tháng = 2.988.000.000 đồng.
+ Khoản tiền lãi thứ hai: Là tiền lãi trên nợ lãi chưa trả
Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 5 Nghị quyết 01/2019, tiền lãi chưa trả trong hạn là 427.500.000 đồng. Thời gian từ 12/10/2010 đến 24/7/2024 là 104 tháng, theo quy định 10%/năm là 0,83%/ tháng. Số tiền phải trả: 427.500.000 x 0,83 %x 104 tháng=369.018.000 đồng.
Như vậy, tổng tiền lãi phải trả là: 427.500.000 đồng + 1.095.000.000 đồng + 2.988.000.000 đồng + 369.018.000 đồng = 4.879.518.000 đồng.
Tổng số tiền gốc và tiền lãi mà bà T2 phải trả cho ông T1 là: 2.000.000.000 đồng + 4.879.518.000 đồng = 6.879.518.000 đồng.
Về số tiền cho thuê nhà:
Ông T1 chấp nhận trả lại cho bà T2 số tiền cho thuê nhà là 4.000.0000 đồng/tháng. Số tháng cho thuê: Từ tháng 07 năm 2009 đến ngày 4 tháng 6 năm 2024 là 180 tháng. Số tiền cho thuê nhà là : 4.000.0000 đồng x 180 = 720.000.000 đồng.
Về số tiền sửa chữa nhà:
- Căn cứ Hợp đồng sửa chữa nhà ngày 02/02/2012 giữa ông Dư Quốc T và ông Nguyễn Trọng T5, lời khai của ông T và ông T5, tổng số tiền của hợp đồng là: 140. 000.000 đồng. Bà Bùi Phương L là người thuê nhà đã sửa chữa nhà với số tiền là 40.000.000 đồng.
Tổng số tiền sửa chữa nhà là : 140.000.000 đồng + 40.000.000 đồng = 180.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bà Mai Phương T2 phải trả cho ông Dư Quốc T được tính như sau:
Tổng số tiền nợ (gốc + lãi ) là : 6.879.518.000 đồng + tổng số tiền sửa chữa là180.000.000 đồng – số tiền cho thuê nhà là 720.000.000 đồng = 6.339.518.000 đồng
Về tài sản đảm bảo:
Đề nghị tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng theo Quyết định số 08/2010/QĐ-BPKCTT ngày 21/09/2010 của TAND Quận 10.
* Đại diện nguyên đơn - ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Thống nhất phần trình bày của luật sư.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Nguyễn Thị Xuân H1 trình bày:
Giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Bổ sung thêm:
Đối với yêu cầu ông T đòi 2.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ do bà T2 ký ngày 10/11/2008 cùng khoản tiền lãi, tổng là 6.339.518.000 đồng. Bà T2 không đồng ý vì bà T2 không phải là người vay tiền và số tiền 2.000.000.000 đồng ghi trên Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 ông Dư Quốc T cũng không có chứng từ giao tiền (tại biên bản phiên toà sơ thẩm ngày 27/09/2010 ông Dư Quốc T đã khai báo "việc bà T2 vay số tiền 2 tỷ ... không phải đưa 01 lần mà chia ra thành nhiều đợt” – như vậy số tiền 2 tỷ đã được ông T chia ra thành nhiều đợt, vậy một đợt là bao nhiêu và nhiều đợt là bao nhiêu đợt).
Như vậy, có thể hiểu là số tiền 2 tỷ trên Giấy nhận nợ 10/11/2008 chỉ là một văn bản xác nhận bà Mai Phương T2 có nợ 2 tỷ với một sự thật, đây chỉ là để bảo lãnh nợ vay của bà Phạm Thị Phương N với ông Dư Quốc T, căn cứ theo Giấy xác nhận ngày 07/10/2009. Ngày 14/09/2009 bà Phạm Thị Phương N có sự đồng thuận của ông Dư Quốc T tại Giấy xác nhận ngày 15/07/2009. Vì vậy, trên Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 giữa bà Mai Phương T2 với ông Dư Quốc T không có nội dung về tiền lãi của số tiền 2 tỷ này. Cũng như không có ghi ngày tháng mà chỉ ghi hẹn trả nợ năm 2010... Giấy nhận nợ nếu thật sự là giấy vay tiền thì chỉ khi nào đến hạn của năm 2010 bên vay không trả thì mới phát sinh tranh chấp. Nhưng sự thật ở đây là các bên (bao gồm ông Dư Quốc T, bà Phạm Thị Phương N, bà Mai Phương T2) đã phát sinh mâu thuẫn nên ông Dư Quốc T đã dùng tờ Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 khởi kiện đòi bà Mai Phương T2 phải trả số tiền 2 tỷ mà không yêu cầu tiền lãi của số tiền 2 tỷ này. Tình tiết này được ông Dư Quốc T khai báo tại phiên toà dân sự sơ thẩm ngày 22/09/2010 "Từ lúc vay đến giờ bà T2 cũng chưa thoả thuận lãi và trả tiền lời cho tôi".
Thực tế bà Mai Phương T2 cũng chưa bao giờ trả tiền lãi cho số tiền 2 tỷ trên Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008. Hoàn toàn không có bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh ông Dư Quốc T và bà Mai Phương T2 thoả thuận tiền lãi của số tiền 2 tỷ này. Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008 mà bà Mai Phương T2 ký nợ ông Dư Quốc T thật sự là để bảo đảm cho các khoản tiền vay giữa bà N với ông T, nhưng hiện tại của bà N không đủ điều kiện tài chính để hoàn trả, vì vậy bà T2 chịu trách nhiệm đồng ý trả thay số tiền 2 tỷ trên Giấy nhận nợ mà bà T2 đã ký nhận nợ với ông T thay cho bà N. Bà T2 và bà N sẽ tự thoả thuận với nhau việc thanh toán số tiền 2 tỷ và khoản tiền lãi sẽ trả cho ông T mà không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
Về khoản tiền lãi tương ứng của số tiền 2 tỷ (không ghi tiền lãi) trên Giấy nhận nợ ngày 10/11/2008. Đề nghị tính theo quy định tại điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Về tiền sửa chữa nhà bà T2 không đồng ý trả lại cho ông T, cũng không có yêu cầu thẩm định giá trị sửa chữa.
Về tiền bộ ghế gỗ bà T2 chỉ đồng ý thanh toán cho ông V số nợ còn lại là 57.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi chậm trả vì bà T2 không được thông báo phải thanh toán số tiền này.
Bà T2 yêu cầu ông T trả lại Căn nhà số A T, P13, Q, TP . theo hiện trạng thực tế và trả tiền cho thuê nhà 180 tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng, tổng số tiền là: 4.000.0000 đồng x 180 tháng = 720.000.000 đồng. Đồng thời yêu cầu trả thêm tiền lãi chậm trả số tiền cho thuê nhà theo bảng tính là 10%/năm từ tháng 07/2009 đến tháng 07/2024 trên số tiền cho thuê nhà lũy tiến theo bảng tính là 937.881.380 đồng. Tổng cộng tiền cho thuê nhà và tiền lãi là 1.657.881.380 đồng.
* Đại diện bị đơn - bà Đặng Thùy T3:
Thống nhất phần trình bày của luật sư.
* Bà Phạm Thị Phương N:
Giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
* Đại diện Công ty TNHH T13 - bà Phạm Thị Phương N:
Giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
* Đại diện ông Nguyễn Hữu V, ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Bà T2 có nhờ ông T bảo lãnh mua tủ thờ và bộ ghế salon trị giá 77.000.000 đồng của cửa hàng ông Nguyễn Hữu V. Bà T2 đã trả 20.000.000 đồng, còn nợ lại cửa hàng số tiền 57.000.000 đồng. Do bà T2 chậm thanh toán nên ông V yêu cầu bà T2 phải trả thêm cho ông V số tiền lãi chậm trả tính từ ngày 04/02/2009 (ngày viết hóa đơn bán hàng) đến ngày 04/04/2024 là 194 tháng, mức lãi suất theo quy định pháp luật 10%/ năm, số tiền lãi là: 57.000.000 đồng x 10%/năm x 194 tháng = 92.150.000 đồng. Tổng số tiền là ông V yêu cầu bà T2 phải trả là: 57.000.000 đồng + 92.150.000 đồng = 149.150.000 đồng.
* Bà Nguyễn Thị T4: Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Ông Nguyễn Trọng T5: Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A: Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
+ Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dư Quốc T:
Trước đây bà T2 cho rằng số tiền bà T2 viết giấy nợ ông T 2.000.000.000 đồng ngày 10/11/2008 là bà N vay của ông T, nhưng nay bà T2 đã chấp nhận khoản vay này là của bà T2 và đồng ý trả cho ông T, do đó chấp nhận yêu cầu của ông T buộc bà T2 phải trả ngay cho ông T số tiền nợ vốn là 2.000.000.000 đồng.
Tại giấy nhận nợ ngày 10/11/2008, không ghi nhận thỏa thuận về lãi suất cho vay nên xác định giao dịch vay tiền vay không có lãi. Về tiền lãi do HĐXX tính theo quy định.
Ông T sửa chữa Căn nhà số A T với số tiền theo hợp đồng ngày 01/02/2012 là 140.250.000 đồng, ông T5 cũng xác nhận nên đề nghị chấp nhận.
+ Xét yêu cầu phản tố của bà Mai Phương T2:
Bà T2 là chủ sở hữu nhà đất tại địa chỉ số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy ủy quyền cho ông T quản lý nhà đã hết thời hạn nên bà T2 yêu cầu ông T trả lại nhà là có cơ sở.
+ Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu V:
Ông V yêu cầu bà T2 phải trả số tiền mua bộ ghế gỗ là 77.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả. Khi nhận hàng bà T2 phải thanh toán đủ tiền mua hàng cho ông V, do đó ông V yêu cầu bà T2 phải trả thêm tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp qui định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự nên đề nghị chấp nhận.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dư Quốc T. Chấp nhận yêu cầu phàn tố của bà Mai Phương T2 và yêu cầu độc lậo của ông Nguyễn Hữu V. Số tiền lãi cụ thể do Hội đồng xét xử tính toán tại thời điểm xét xử.
- Về án phí: Ông Dư Quốc T là người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí; bà Mai Phương T2 chịu án phí theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền của Tòa án: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dư Quốc T; yêu cầu phản tố của bà Mai Phương T2 và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu V xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản”. Bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2. Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trọng T5, bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A nhưng tất cả đều vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trọng T5, bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.3. Về việc không đưa người vào tham gia tố tụng:
Tại đơn đề nghị ngày 23/07/2010, ông Bùi Xuân T8 xác nhận không liên quan gì đến tranh chấp vay tiền giữa ông Dư Quốc T và bà Mai Phương T2. Ông T8 chỉ giữ hộ các bên giấy tờ Căn nhà 1 T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Biên bản giải quyết thi hành án ngày 24/09/2010, ghi nhận ông T8 đã nộp bản chính giấy tờ Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 lưu giữ gồm:
- Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5105/2008/UB-GCN ngày 08/10/2008 dop Ủy ban nhân dân Q1 cấp;
- Thông báo nộp phí trước bạ nhà, đất số : 4950/CCT ngày 20/08/2008 của Chi cục T;
- Biên bản thanh lý Hợp đồng tín dụng lập ngày 05/08/2009 giữa Ngân hàng TMCP Đ và bà Mai Phương T2;
- Đơn yêu cầu xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 204/XĐK-TB.09 ngày 05/08/2009 của Ngân hàng TMCP Đ (02 bản);
- Thông báo giải chấp số 204/TBGC ngày 05/08/2009 của Ngân hàng TMCP Đ (02 bản) và Hợp đồng ủy quyền số 038625 ngày 06/11/2008 tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tại công văn số 644/CCTHADS ngày 02/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 cũng xác nhận đang giữ bản chính các tài liệu trên.
Hiện nay ông Bùi Xuân T8 không còn là người giữ bản chính giấy tờ căn nhà đang tranh chấp, các bên không có yêu cầu gì đối với ông T8. Do đó không phải đưa Bùi Xuân T8 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bà Lê Thị N1 là vợ của ông Dư Quốc T có văn bản xác định số tiền T cho bà T2 vay và các giao dịch giữa ông T với bà T2 là từ tài sản riêng của ông T, hoàn toàn không liên quan đến bà N1. Bà N1 đề nghị không đưa bà N1 vào tham gia tố tụng trong vụ án. Ông T cũng xác nhận tiền cho bà T2 vay là tiền riêng của ông T, không phải tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, việc giải quyết vụ án không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà N1 nên Tòa án không đưa bà N1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1.4. Về việc bị đơn bổ sung yêu cầu phản tố:
Tại phiên tòa, bị đơn bổ sung yêu cầu phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải trả thêm tiền lãi trên số tiền cho thuê nhà. Xét đơn phản tố ngày 16/08/2020, đơn bổ sung yêu cầu phản tố ngày 25/08/2020 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chỉ yêu cầu nguyên đơn trả lại số tiền cho thuê nhà, không yêu cầu trả tiền lãi chậm trả. Như vậy, yêu cầu bổ sung của bị đơn tại phiên tòa là đã vượt quá phạm vi yêu cầu phản tố ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244, khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận giải quyết yêu cầu bổ sung của bị đơn tại phiên tòa trong vụ án này. Bị đơn có quyền khởi kiện nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền cho thuê nhà bằng một vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
2.1. Về việc ông T yêu cầu bà T2 phải trả số nợ gốc là 2.000.000.000 đồng:
Xét thấy, bà Mai Phương T2 thừa nhận ngày 10/11/2008 có viết giấy nhận nợ ghi nội dung: “Nay tôi lập giấy này khẳng định tôi có nợ ông Ba T10 số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỉ đồng)..., tôi xin hẹn trả nợ năm 2010..., có thế chấp giấy tờ nhà 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh”. Bà T2 ký và ghi họ tên bên người lập giấy nhận nợ.
Trước đây bà T2 cho rằng số tiền bà T2 viết giấy nợ ông T10 2.000.000.000 đồng ngày 10/11/2008 là bà N vay của ông T10, nhưng nay bà T2 đã chấp nhận khoản vay này là của bà T2 và đồng ý trả cho ông T10. Như vậy ông T10 đã cho bà T2 vay số tiền 2.000.000.000 đồng từ ngày 10/11/2008, thời hạn trả là năm 2010. Đến nay bà T2 vẫn chưa trả nợ cho ông T10 là đã vi phạm thỏa thuận của hai bên tại giấy nhận nợ ngày 10/11/2008. Việc vay tiền đã lâu bà T2 không trả được tiền lãi và tiền nợ vốn cho ông T10, kéo dài sẽ gây thiệt hại quyền lợi của ông T10, do đó chấp nhận yêu cầu của ông T10 buộc bà T2 phải trả ngay cho ông T10 số tiền nợ vốn là 2.000.000.000 đồng.
Bà N cho rằng số tiền bà T2 viết nợ ông T10 2.000.000.000 đồng ngày 10/11/2008 là nợ của bà N. Tuy nhiên tại Bản án phúc thẩm số: 223/2024/DS-PT ngày 22/03/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã không chấp nhận việc bà N yêu cầu nhập vụ án và đã nhận định khoản nợ giữa bà T2 và ông T10 không liên quan đến khoản nợ giữa ông T10 với N và Công ty TNHH T13.
2.2. Về việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả tổng số tiền lãi là 4.879.518.000 đồng:
Giao dịch dân sự giữa ông T10 và bà T2 được xác lập trước ngày 01/01/2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) nhưng cho đến nay vẫn chưa được thực hiện xong thì xảy ra tranh chấp. Nhận thấy, giao dịch vay tiền giữa các bên phù hợp quy định tại điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 cũng như Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005, do đó căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015 về Điều khoản chuyển tiếp thì phải áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết tranh chấp Hợp đồng cho vay tài sản giữa giữa ông T10 và bà T2.
Xét thấy tại giấy nhận nợ ngày 10/11/2008, không ghi nhận thỏa thuận về lãi suất cho vay. Ông T10 khai hai bên có thỏa thuận miệng lãi suất là 2%/tháng và bà T2 đã trả tiền lãi cho ông T10 được 5 tháng. Tuy nhiên bà T2 không thừa nhận có thỏa thuận việc trả lãi và từ khi viết giấy nợ số tiền 2.000.000.000 đồng, bản thân bà T2 không trả cho ông T10 một khoản tiền lãi nào. Do đó xác định giao dịch vay tiền giữa ông T10 và bà T2 là trường hợp vay không có lãi. Bà T2 cam kết thời hạn trả nợ là năm 2010, tức là đến hết ngày 30/12/2010 bà T2 phải có trách nhiệm trả cho ông T10 toàn bộ số tiền vay là 2.000.000.000 đồng.
Tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này “; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay....Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ“; Tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả“.
Căn cứ quy định pháp luật đã viện dẫn trên thì việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả tiền lãi do chậm thanh toán chỉ được tính với mức lãi suất là 10%/năm. Ông Trung tính tiền lãi bắt đầu ngày 01/01/2011 (là ngày bà T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc) đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 24/07/2024 (là 13 năm 6 tháng 24 ngày = 162,8 tháng), số tiền cụ thể là: 2.000.000.000 đồng x 0.83%/tháng (10%/năm) x 162,8 tháng = 2.702.480.000 đồng.
Như vậy, việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả tiền lãi do chậm thanh toán nợ gốc số tiền là 4.879.518.000 đồng chỉ được chấp nhận một phần với số tiền là 2.702.480.000 đồng.
2.3. Về việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả tổng số tiền sửa chữa nhà là 180.000.000 đồng:
Xét thấy, ngày 06/11/2008 bà T2 có ký ủy quyền cho ông T10 được quản lý, sử dụng, liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục cho thuê, cho mượn, thế chấp hoặc bán nhà ở đối với Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn ủy quyền là 05 năm kể từ ngày ký hợp đồng. Hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/11/2008; Số công chứng: 038625, quyển số: 11/TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông T10 khai ngày 01/02/2010 ông T10 đã ký kết hợp đồng với ông T5 để sửa chữa Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số tiền sửa chữa nhà là 359.000.000 đồng, tại phiên tòa ông T10 thay đổi lời khai tổng tiền sửa chữa nhà là 180.000.000 đồng, ông T10 đã trả đủ cho ông T5 số tiền sửa chữa nhà. Ông T10 yêu cầu bà T2 khi nhận nhà phải trả lại cho ông T10 số tiền 180.000.000 đồng vì theo ông T10 có sữa chữa thì ông T10 mới cho thuê nhà được với giá 4.000.000 đồng, đồng thời trong giấy ủy quyền bà T2 cũng có ủy quyền cho ông T10 được quyền cho thuê nhà.
Ông T5 xác nhận có hợp đồng sửa chữa Căn nhà số A T cho ông T10 với số tiền là 359.000.000 đồng, ông T10 đã thanh toán đủ tiền sửa chữa nhà cho ông T5 nên ông T5 không còn liên quan. Căn cứ vào Hợp đồng sửa chữa nhà ngày 01/02/2012 ký giữa ông T10 và ông T5, giá trị hợp đồng là 140.250.000 đồng đã có cở sở xác định vào tháng 02/2010 ông T10 có sửa chữa Căn nhà số A T với số tiền là 140.250.000 đồng. Tại giấy ủy quyền ngày 06/11/2008 bà T2 không ủy quyền cho ông T10 sửa chữa nhà, việc ông T10 sửa chữa nhà không được sự đồng ý của bà T2. Tuy nhiên bà Bùi Phương L là người thuê Căn nhà số A T từ tháng 07/2009 cho đến nay đã xác nhận sau khi thuê nhà gần 01 năm bà L có yêu cầu ông T10 phải sửa chữa vì nhà xuống cấp không ở được, sửa chữa thì gia đình bà L mới thuê tiếp. Ông T10 sửa chữa Căn nhà số A T với số tiền theo hợp đồng ngày 01/02/2012 là 140.250.000 đồng, bà T2 không có ý kiến và cũng không yêu cầu thẩm định giá trị sửa chữa căn nhà. Xét việc sửa chữa căn nhà đã lâu từ tháng 02/2010, các bên đều không có yêu cầu thẩm định giá trị sửa chữa. Giá trị sửa chữa nhà thời điểm tháng 02/2010 đã có chứng từ và được người sửa nhà xác nhận. Như vậy việc ông T10 sửa chữa nhà với số tiền là 140.250.000 đồng đã làm tăng giá trị sử dụng căn nhà mới cho thuê được. Ông T10 sửa chữa nhà từ tháng 02/2010 là trong thời hạn bà T2 ủy quyền cho ông T10 được quyền cho thuê nhà và bà T2 cũng có yêu cầu ông T10 phải trả lại tiền thuê nhà.
Ông T10 còn yêu cầu bà T2 trả số tiền sửa chữa nhà ông T10 đã trả cho bà L 39.720.000 đồng mà ông T10 đã xác nhận ngày 12/10/2023. Xét yêu cầu này là không có căn cứ vì số tiền sửa chữa nhà 39.720.000 đồng chỉ một mình ông T10 xác nhận và thời điểm ông T10 xác nhận trả lại tiền sữa chữa nhà cho bà L ngày 12/10/2023 không nằm trong thời gian được bà T2 ủy quyền cho thuê nhà.
Như vậy, việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả lại số tiền số tiền sửa chữa nhà 180.000.000 đồng chỉ được chấp nhận một phần với số tiền là 140.250.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả 2.000.000.000 đồng tiền nợ gốc; 2.702.480.000 đồng tiền lãi; 140.250.000 đồng tiền sửa chữa nhà. Tổng số tiền được chấp nhận là 4.842.730.000 đồng.
Không chấp nhận việc ông T10 yêu cầu bà T2 phải trả tiền số tiền lãi vượt quá quy định là 2.177.038.000 đồng; tiền sửa chữa nhà không có căn cứ là 39.750.000 đồng. Tổng số tiền không được chấp nhận là 2.216.788.000 đồng.
[3] Xét các yêu cầu phản tố của bị đơn:
3.1. Bà T2 yêu cầu ông T10 phải trả lại Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh:
Theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5105/2008/UB-GCN ngày 08/10/2008 do Ủy ban nhân dân Quận Q1 cấp đứng tên bà Mai Phương T2 thì bà T2 là chủ sở hữu nhà đất tại địa chỉ số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 06/11/2008 bà T2 có ký ủy quyền cho ông T10 được quản lý, sử dụng, cho thuê, cho mượn, thế chấp hoặc bán nhà ở đối với Căn nhà số A T. Thời hạn ủy quyền là 05 năm kể từ ngày ký hợp đồng, bà T2 đã bàn giao Căn nhà số A T cho ông T10 quản lý. Thời hạn ủy quyền 5 năm đã hết từ ngày 06/11/2013, các bên không có thỏa thuận nào khác. Theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự về quyền của chủ sở hữu được đòi lại tài sản, do đó bà T2 yêu cầu ông T10 trả lại nhà Căn nhà số A T là có có sở nên được chấp nhận.
Bà T2 chỉ yêu cầu trả Căn nhà số A T trong tình trạng thực tế ngày hoàn trả, yêu cầu của bà T2 không ảnh hưởng đến quá trình giao nhận nhà và ông T10 đồng ý nên có cơ sở chấp nhận.
Bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A đã có lời khai xác nhận chỉ thuê ở chứ không có quyền gì đối với Căn nhà số A T và đồng ý giao nhà theo phán quyết của Tòa án. Do đó những người này phải có trách nhiệm di dời toàn bộ đồ đạc tài sản trong Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giao nhà trống cho ông Dư Quốc T (để ông T giao nhà trống cho bà T2).
Tại phiên tòa, bà T2 có yêu cầu được nhận lại bản chính giấy tờ Căn nhà số A T. Xét bà T2 là chủ sở hữu Căn nhà số A T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên có quyền liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 để nhận lại toàn bộ bản chính giấy tờ Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giải quyết thi hành án lập hồi 14 giờ 00 ngày 24/09/2010 tại trụ sở Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 10 đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 08/2010/QĐ-BPKCTT ngày 21/09/2010 về việc buộc ông Bùi Xuân T8 giao toàn bộ bản chính giấy tờ Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 giữ. Nay bà T2 là chủ sở hữu Căn nhà số A T đã có yêu cầu được nhận lại toàn bộ bản chính giấy tờ nhà nên cần hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 08/2010/QĐ-BPKCTT ngày 21/09/2010.
3.2. Bà T2 yêu cầu ông T phải trả lại số tiền cho thuê nhà là 720.000.000 đồng.
Bà T2 cho rằng tiền cho thuê C nhà số A T mỗi tháng là 4.000.000 đồng và yêu cầu ông T phải trả lại tiền cho thuê nhà từ tháng 07/2009 (là ngày cho gia đình bà L thuê) đến khi xét xử sơ thẩm là tháng 07/2024 (180 tháng), số tiền là: 180 tháng x 4.000.000 đồng = 720.000.000 đồng.
Xét hợp đồng thuê nhà ngày 09/07/2009 ký giữa ông T và bà L thì giá thuê căn nhà là 4.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê từ 09/07/2009. Bà L và ông T xác nhận từ tháng 07/2009 giá thuê nhà không thay đổi cho đến nay. Như vậy thời điểm ông Trung thu tiền thuê nhà từ tháng 07/2009 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 24/07/2024, bà Tâm t 180 tháng, tổng số tiền cho thuê nhà 720.000.000 đồng là có cơ sở và được ông T cũng xác nhận và đồng ý trả lại cho bà T2 số tiền này.
Do đó việc bà T2 yêu cầu ông T phải trả lại số tiền cho thuê nhà là 720.000.000 đồng được chấp nhận. Việc ông T chưa trả lại nhà, vẫn đang quản lý sử dụng căn nhà để cho thuê nên còn phải tiếp tục trả tiền thuê nhà cho bà T2 từ ngày 25/07/2024 cho đến ngày thực tế trả nhà theo mức giá thuê là 4.000.000 đồng/tháng.
[4] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hữu V yêu cầu bà Mai Phương T2 phải trả số tiền mua bộ ghế gỗ là 149.150.000 đồng.
Xét ông V, bà T2, ông T đã có lời khai thống nhất là trước đây khi còn thân thiết, bà T2 có nhờ ông T bảo lãnh mua của ông V bộ ghế gỗ và tủ thờ trị giá 77.000.000 đồng. Bà T2 đã trả 20.000.000 đồng, còn nợ lại ông V số tiền 57.000.000 đồng.
Theo ông V, do bà T2 chậm trả tiền nên ông V yêu cầu bà T2 phải trả số tiền mua hàng còn thiếu là 57.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày ghi trên hóa đơn mua hàng là ngày 04/02/2009 đến ngày 04/04/2024 là 194 tháng, mức lãi suất theo quy định pháp luật 10%/ năm, số tiền lãi là: 57.000.000 đồng x 10%/năm x 194 tháng = 92.150.000 đồng.
Xét bà T2 cũng thừa nhận còn nợ ông V số tiền mua hàng là 57.000.000 đồng và ngày nhận bộ ghế gỗ là trước ngày 04/02/2009 (ngày ghi trên hóa đơn). Lẽ ra khi nhận hàng bà T2 phải thanh toán đủ tiền cho ông V theo quy định tại khoản 2 Điều 440 của Bộ luật dân sự nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán. Do đó ông V yêu cầu bà T2 phải trả thêm tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp qui định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Có cơ sở chấp nhận việc ông V yêu cầu bà T2 phải trả tổng số tiền là 149.150.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dư Quốc T; chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Mai Phương T2; chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu V.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng khác:
Về án phí: Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do vụ án được thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/01/2017 nên án phí được tính theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 như sau:
4.1. Nguyên đơn – ông Dư Quốc T chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận số tiền là 76.335.760 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận số tiền là 36.200.000 đồng (gồm 200.000 đồng án phí về yêu cầu trả nhà không có giá ngạch). Tuy nhiên ông Dư Quốc T, sinh năm: 1944 là người cao tuổi và có yêu cầu được miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
4.2. Bị đơn – bà Mai Phương T2 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận số tiền là 112.842.730 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận số tiền là 7.457.500 đồng. Tổng số tiền án phí bà T2 phải chịu là 119.940.230 đồng.
4.3. Chi phí tố tụng khác:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 1.300.000 đồng do bà Mai Phương T2 chịu.
[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 166, 357, 430, 433, 440, 463, 465, 466, 468, 469, 563, 562 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dư Quốc T:
Bà Mai Phương T2 có nghĩa vụ trả cho ông Dư Quốc T tổng số tiền là 4.842.730.000 đồng (bốn tỉ, tám trăm bốn mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) (trong đó bao gồm nợ gốc là 2.000.000.000 đồng; nợ lãi 2.702.480.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 25/06/2016 và 140.250.000 đồng tiền sửa chữa nhà).
Kể từ ngày ông Dư Quốc T có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ông Dư Quốc T) cho đến khi thi hành án xong, bà Mai Phương T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Mai Phương T2:
2.1. Ông Dư Quốc T có nghĩa vụ giao trả cho bà Mai Phương T2 Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tình trạng thực tế khi giao nhận) có Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Hồ sơ gốc số 5105/2008/UB.GCN ngày 08/10/2008 do Ủy ban nhân dân Quận Q1 cấp, đứng tên bà Mai Phương T2.
Bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A (cùng những người đang ở trong nhà) phải có trách nhiệm di dời toàn bộ đồ đạc tài sản trong Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giao nhà trống cho ông Dư Quốc T (để ông T giao nhà trống cho bà T2).
Việc giao nhận nhà giữa các đương sự thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Dư Quốc T còn phải tiếp tục trả tiền cho thuê nhà cho bà Mai Phương T2 từ ngày 25/07/2024 cho đến ngày thực tế trả nhà theo mức giá thuê là 4.000.000 đồng/tháng (bốn triệu đồng/tháng).
Bà Mai Phương T2 có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 để nhận lại toàn bộ bản chính giấy tờ Căn nhà số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giải quyết thi hành án lập hồi 14 giờ 00 ngày 24/09/2010 tại trụ sở Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
2.2. Ông Dư Quốc T có nghĩa vụ trả cho bà Mai Phương T2 số tiền cho thuê nhà là 720.000.000 đồng (bảy trăm hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bà Mai Phương T2 có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bà Mai Phương T2) cho đến khi thi hành án xong, ông Dư Quốc T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu V:
Bà Mai Phương T2 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hữu V số tiền mua hàng là 149.150.000 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Nguyễn Hữu V có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ông Nguyễn Hữu V) cho đến khi thi hành án xong, bà Mai Phương T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Mai Phương T2 chịu án phí số tiền là 119.940.230 đồng (một trăm mười chín triệu, chín trăm bốn mươi nghìn, hai trăm ba mươi đồng), được trừ vào tổng tiền tạm ứng án phí đã nộp 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 026253 ngày 01/07/2010; 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2019/0014962 ngày 25/08/2020; 11.180.000 đồng (mười một triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2019/0014727 ngày 23/06/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Mai Phương T2 còn phải nộp thêm 107.560.230 đồng (một trăm lẻ bảy triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, hai trăm ba mươi đồng) tiền án phí.
Ông Dư Quốc T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Trả lại cho ông Dư Quốc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng) theo biên lai số: 004840, quyển số 0097 ngày 05/10/2009 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lại cho ông Nguyễn Hữu V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.075.625 đồng (ba triệu không trăm bảy mươi năm nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai số: 0049546 ngày 28/9/2020 Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chi phí tố tụng khác:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 1.300.000 đồng (một triệu, ba trăm nghìn đồng) do bà Mai Phương T2 chịu, bà T2 đã nộp đủ số tiền 1.300.000 đồng (một triệu, ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo:
Ông Dư Quốc T, bà Mai Phương T2, bà Phạm Thị Phương N, Công ty TNHH T13, ông Nguyễn Hữu V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trọng T5, bà Bùi Phương L, ông Phan Sỹ T6, bà Hà Thị T7, ông Phan Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huyền |
Bản án số 241/2024/DS – ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản
- Số bản án: 241/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dư Quốc T và Mai Phương T2. Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu trả tiền sửa chữa nhà; yêu cầu trả nhà; yêu cầu trả tiền mua tài sản
