TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 241/2024/DS-ST Ngày: 30 – 7 – 2024 V/v hợp đồng xây dựng nhà ở | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng; Bà Nguyễn Thị Thu Cúc
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 342/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 416/2024/QĐXXST-DS ngày 21/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 411/2024/QĐST-DS ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty TNHH Một Thành Viên X. (sau đây viết tắt là công ty X). Địa chỉ: số B, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0914.254.xxx.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H - giám đốc. có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1977; vắng mặt
- Địa chỉ: số G, đường V, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0944.557.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn công ty TNHH MTV X trình bày:
Ngày 02/12/2022, công ty TNHH MTV X và bà Phạm Thị Kim C có ký kết hợp đồng thi công công trình nhà ở. Theo đó công ty thi công cải tạo nhà ở cho bà Kim C với tổng số tiền là 251.344.000đ (hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bốn ngàn đồng), thi công chia thành 3 giai đoạn ứng tiền nhân công công trình cụ thể: khi bắt đầu thi công đưa 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), khi đổ sàn mái đưa 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và khi bàn giao công trình đưa 51.344.000đ (năm mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty đã thực hiện đầy đủ việc xây nhà cho bà Kim C như thỏa thuận, bà Kim C đã nhận nhà và đi vào sử dụng nhưng vẫn còn nợ công ty tiền công thợ số tiền 81.344.000đ (tám mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) và 60.069.400₫ (sáu mươi triệu, không trăm sáu mươi chín ngàn, bốn trăm đồng) tiền vật tư, tổng số tiền còn nợ công ty là 141.413.400đ (một trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm mười ba ngàn, bốn trăm đồng).
Công ty đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà Kim C trả nhưng bà chỉ hứa hẹn mà không thực hiện. Do bà Kim C đã không làm đúng nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng thi công xây dựng nhà ở nên công ty yêu cầu buộc bà Kim C phải trả cho công ty số tiền 141.413.400đ (một trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm mười ba ngàn, bốn trăm đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật, tính từ ngày 02/02/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Án phí dân sự sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị Kim C vắng mặt không tham gia phiên họp và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của của bà Kim C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty X khởi kiện về hợp đồng thi công đối với bà Phạm Thị Kim C có địa chỉ cư trú tại thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng công ty X có đơn xin xét xử vắng mặt và bà C vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt công ty X và bà C là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Toà án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như thông báo kết quả phiên họp cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để bà Kim C thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên bà Kim C vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bà Kim C tự từ bỏ quyền lợi cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ để giải quyết vụ án.
[2.2] Ngày 02/12/2022, bà Phạm Thị Kim C và công ty X cùng ký kết hợp đồng thi công xây dựng nhà ở số 01/02/HĐ.NN về việc thi công xây dựng nhà ở, việc xác lập giao dịch này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 138, Điều 139, Điều 141 Luật Xây dựng 2014 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo như hợp đồng đã ký kết.
[2.3] Tổng giá trị hợp đồng chi phí xây dựng là 251.344.000đ (hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bốn ngàn đồng), về vật tư do bà Kim C cung cấp cho bên công ty xây dựng, thời gian thi công là 02 tháng, về hình thức thanh toán chia làm 03 đợt, đợt cuối là khi bàn giao và đưa vào sử dụng. Theo đó, phía công ty X đã tiến hành xây dựng và bàn giao nhà ở cho bà Kim C sử dụng đúng như hợp đồng đã ký kết, từ ngày 02/02/2023. Theo như các phiếu giao nhận hàng vật tư và nội dung tin nhắn zalo ngày 29/3/2023 giữa tài khoản của bà Kim C và công ty X xác nhận với nhau về số tiền còn nợ gồm “1. Nhân công còn lại: 81.344.000đ; 2. Phần vật tư sơn: 60.069.400đ; tổng cộng: 141.413.400₫”, theo đó bà Kim C thừa nhận còn nợ số tiền nêu trên và nhiều lần hứa hẹn sẽ thanh toán nhưng cho đến nay vẫn chưa thanh toán cho công ty X. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở do đó căn cứ Điều 144 Luật Xây dựng 2014; Điều 19 Nghị định 37/2015/NĐ-CP Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Kim C có nghĩa vụ trả cho công ty X số tiền chưa thanh toán: 141.413.400 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm mười ba ngàn, bốn trăm đồng).
[2.4] Về yêu cầu tính lãi: Theo thỏa thuận thì thời hạn thanh toán là ngay sau khi hoàn thành và bàn giao sử dụng từ ngày 02/02/2023, tuy nhiên bà Kim C đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 do đó bà Kim C phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, do các bên không thỏa thuận về mức lãi suất do đó áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, cụ thể như sau: 141.413.400₫ x 10%/năm x 01 năm 05 tháng 28 ngày = 21.118.000 đồng. (hai mươi mốt triệu, một trăm mười tám ngàn đồng)
Tổng số tiền bà Kim C có nghĩa vụ trả cho công ty X: 141.413.400đ + 21.118.000₫ = 162.531.400 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm ba mươi mốt ngàn, bốn trăm đồng)
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của công ty được chấp nhận nên công ty không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho công ty T án phí đã nộp. Bà Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ vào Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ vào Điều 138, Điều 139, Điều 141 và Điều 144 Luật Xây dựng 2014;
- - Căn cứ vào Điều 3, Điều 6, Điều 19 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng;
- - Căn cứ vào Thông tư số 02/2023/BXD-TT ngày 03/3/2023 của Bộ X1 hướng dẫn một số quy định về hợp đồng xây dựng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV X.
Buộc bà Phạm Thị Kim C có nghĩa vụ trả cho công ty TNHH MTV X số tiền 162.531.400 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm ba mươi mốt ngàn, bốn trăm đồng), trong đó tiền gốc: 141.413.400đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm mười ba ngàn, bốn trăm đồng) và tiền lãi: 21.118.000đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm mười tám ngàn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử (ngày 31/7/2024) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Kim C phải chịu 8.126.000đ (tám triệu, một trăm hai mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho công ty TNHH MTV X số tiền 3.535.000đ (ba triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà công ty đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 0002184 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 241/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở
- Số bản án: 241/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
