Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 241/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lượng

Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trương Văn D, sinh năm 1996 tại Bình Định; giới tính: Nam; nơi thường trú: Xóm D, thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông (không rõ) và bà Trương Thị T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 29/12/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo trong thời hạn 18 tháng. (Quyết định số 551/QĐ-TA ngày 29/12/2021). Chấp hành xong ngày 04/04/2023.

Nhân thân:

- Ngày 07/02/2018, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng (Quyết định số 51/QĐ-TA ngày 07/02/2018) . Chấp hành xong ngày 01/3/2019.

- Ngày 10/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong 18 tháng. (Quyết định số 259/QĐ-TA ngày 10/8/2020) Chấp hành xong ngày 26/6/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Trung N, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi thường trú: 111/1A, Đường B, Tổ dân Phố A, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố H; chỗ ở: A, Đường B, Tổ dân Phố A, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị H; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 24/12/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. (Quyết định số 324/2020/QĐ-TA ngày 24/12/2020). Chấp hành xong ngày 06/01/2023.

Nhân thân: Ngày 13/6/2013, bị Ủy ban nhân dân Quận 9 Thành phố H áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng. (Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 13/6/2013). Chấp hành xong ngày 18/6/2015.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại:

Ông Dương Hửu T2, sinh năm 1993

Địa chỉ: 5 đường C, khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Ông Mai Cường Q, sinh năm 2001

Địa chỉ: 5 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, B (không rõ lai lịch) đến nhà của Nguyễn Trung N tại số A, đường B, Khu phố D, phường P, thành phố T rủ N “Ngày mai đi lòng vòng khu vực phường H, thành phố T tìm tài sản lấy trộm”, N đồng ý. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, B điều khiển xe Honda Wave Alpha màu trắng (không rõ biển số) và B1 (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario màu xám (không rõ biển số) tiếp tục đến gặp Trương Văn D rủ đi lấy trộm, do không có tiền tiêu sài nên D đồng ý đi ăn trộm cùng nhóm của B. Sau đó, B1 điều khiển xe chở D, cùng với B1 đến nhà N để chở N cùng đi tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước chung cư M, Đường B, Khu phố E, phường H, thành phố T thì B1 thấy dưới sảnh chung cư có nhiều xe máy, không có người trông coi nên B1 dừng lại để N, B và D đứng ngoài cảnh giới, còn B1 đi bộ vào dùng vật gì không rõ bẻ khóa xe mô tô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-326.34 của anh Dương Hửu T2 và xe mô tô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-424.63 của anh M Cường Quốc rồi đi ra chỗ B, N và D đứng cảnh giới. Bi kêu N và D vào đẩy 02 xe mô tô đã bẻ khóa sẵn ra. Sau đó, N vào lấy xe mô tô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-326.34, còn D lấy xe Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-424.63 vừa đẩy ra 02m thì bị Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang N và D cùng tang vật, còn B và B1 tẩu thoát. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, N và đưa về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Trung N và Trương Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, N và D khai mới quen biết B và B1 nên không rõ lai lịch và nhà B và B1 ở đâu, không nhớ rõ biển số xe của 02 đối tượng sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số: 79-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá, Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển số 84K1-326.34 giá 10.133.000 đồng.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc biển số 84K1-424.63 giá 12.833.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 22.966.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số: 84K1-326.34, số máy JA39E0710261, số khung 3906HY730109. Chủ sở hữu là ông Dương Hửu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông T2.

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-424.63, số máy JA39E2003132, số khung 3929LY003072. Chủ sở hữu là ông Mai Cường Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Q.

+ 02 bộ quần áo và nón bảo hiểm của N và D mặc khi gây án.

+ 01 (một) USB dữ liệu camera ghi nhận nội dung vụ việc trên.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Cường Q và Dương Hửu T2 sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm không có yêu cầu bồi thường nào khác.

Tại Cáo trạng số: 221/CT-VKSTĐ ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Trung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Văn D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Về dân sự: Ghi nhận các bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại;

- Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Trung N khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo D, N nói lời sau cùng: rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, tại chung cư M, Đường B, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Trung N đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 84K1-326.34 trị giá 10.133.000 đồng của ông Dương Hửu T2, và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 84K1-424.63 trị giá 12.833.000 đồng của ông Mai Cường Q. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 22.966.000 đồng.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trên của các bị hại, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 22.966.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Trung N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn không mang tính tổ chức, cả 02 bị cáo cùng trực tiếp thực hiện tội phạm. Xét về nhân thân, cả 02 bị cáo đều có nhân thân xấu, cụ thể:

* Đối với bị cáo Trương Văn D:

- Ngày 29/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 04/04/2023.

- Ngày 07/02/2018, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 01/3/2019.

- Ngày 10/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong 18 tháng. Chấp hành xong ngày 26/6/2021.

* Đối với bị cáo Nguyễn Trung N:

- Ngày 24/12/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 06/01/2023.

- Ngày 13/6/2013, bị Ủy ban nhân dân Quận I áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 18/6/2015.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý hợp pháp về tài sản của người khác và còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng thu giữ:

+ Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số: 84K1-326.34, chủ sở hữu là ông Dương Hửu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông T2 và 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số: 84K1-424.63, chủ sở hữu là ông Mai Cường Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Q nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

+ Đối với 02 (hai) bộ quần áo và nón bảo hiểm của N và D mặc khi gây án, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Đối với 01 (một) USB dữ liệu camera ghi nhận nội dung vụ việc trên thì lưu giữ hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Mai Cường Q và ông Dương Hửu T2 sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm không có yêu cầu bồi thường nào khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Đối với các đối tượng B1 và B, hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục rà soát, làm rõ nhân thân lai lịch của B1 và B. Sau khi xác minh làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

[10] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với các bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án và dân sự. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trương Văn D:

Xử phạt bị cáo Trương Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung N:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.

* Căn cứ Điều 106 và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 02 (hai) bộ quần áo và nón bảo hiểm của N và D mặc khi gây án.

- Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) USB dữ liệu camera ghi nhận nội dung vụ việc trên

(Phiếu nhập kho số NK24/264C ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

* Ghi nhận việc các bị hại Mai Cường Q và Dương Hửu T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức, TPHCM;
  • - CA thành phố Thủ Đức, TPHCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, TPHCM;
  • - PC 53 - Công an TPHCM;
  • - Sở tư pháp TPHCM;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 241/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 241/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger