TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 241/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 7 - 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng; ông Mai Xuân Thường.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 119/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hồ Thị T, sinh ngày 12/02/1993. Địa chỉ: thôn A, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: anh Hồ Bá D, sinh ngày 02/12/1990. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: nước ngoài. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Hồ Thị T trình bày như sau:
Chị Hồ Thị T và anh Hồ Bá D kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An ngày 07 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình nên năm 2018 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Chị T, anh D vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội facebook. Nhưng vì khoảng cách địa lí quá xa, không có nhiều thời gian dành cho nhau vì thế vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn cãi vã, thiếu sự tin trưởng và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị T đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Năm 2022 chị T, anh D cắt đứt liên lạc với nhau, không ai quan tâm đến ai nữa.
Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T làm đơn này đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Bá D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị T, anh D có 01 con chung là Hồ Bá Bảo D1, sinh ngày 22/06/2018. Từ ngày anh D đi nước ngoài đến nay, cháu D1 do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị T có nguyện vọng chăm sóc và nuôi dưỡng con chung Hồ Bá Bảo D1 và không yêu cầu anh Hồ Bá D cấp dưỡng nuôi con. Khi nào anh D về nước, anh cấp dưỡng nuôi con, chị T cũng không từ chối
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn (anh Hồ Bá D) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh Hồ Bá D đều vắng mặt không có lý do.
Chị Hồ Thị T không cung cấp được địa chỉ nơi cứ trú, nơi làm việc hiện nay của anh Hồ Bá D. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh Hồ Bá D (bà Bùi Thị Cù 1 bố mẹ đẻ anh D, trú tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Hồ Bá D); yêu cầu bà C thông báo cho anh D biết chị Hồ Thị T đang khởi kiện ly hôn anh D và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh D gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà Bùi Thị C1 cho biết anh D đang ở Đài Loan và thường xuyên liên lạc với bà qua mạng xã hội facebook, zalo; anh D đã biết chị Hồ Thị T đang khởi kiện ly hôn anh D và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng do anh D đang lao động bất hợp pháp nên không có địa chỉ nơi cư trú cố định để cung cấp cho Tòa án; anh D đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Hồ Bá D liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh D.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Bá D; giao con chung Hồ Bá Bảo D1, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2018 cho chị Hồ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị T chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: chị Hồ Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền: nguyên đơn chị Hồ Thị T và bị đơn anh Hồ Bá D có địa chỉ cư trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh D hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Hồ Bá D vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn – chị Hồ Thị T đã viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án, nhưng không thể tham gia phiên tòa được nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn - anh Hồ Bá D: Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Công văn số 9044/QLXNC-P3 ngày 04/5/2024 của Cục Q - Bộ C2 thì anh Hồ Bá D xuất cảnh qua Cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Hồ Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Hồ Bá D tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Bùi Thị C1 (mẹ đẻ anh D) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh D và thông báo cho anh D biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Hồ Thị T, đề nghị anh D gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà C1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh D, nhưng đã thông tin và anh D đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án trên mà anh D là bị đơn và anh D không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa thôn C, xã Q; tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và tại nơi cư trú cuối cùng của anh D trước khi xuất cảnh (thôn C, xã Q) theo đúng quy định pháp luật. Việc anh D không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh D cố tình dấu địa chỉ.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị T và anh Hồ Bá D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An ngày 07 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2018 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nhưng khoảng cách địa lí chị T, anh D không có thời gian dành cho nhau vì thế đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thiếu sự tin trưởng và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, tình cảm vợ chồng rạn nứt, sau đó thì chị T, anh D cắt đứt liên lạc với nhau, không ai quan tâm đến ai nữa. Xét thấy: tình cảm vợ chồng giữa chị Hồ Thị T và anh Hồ Bá D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Hồ Thị T và anh Hồ Bá D có một con chung Hồ Bá Bảo D1, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2018. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị T và không xém xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh D có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Hồ Thị T không yêu cầu và anh Hồ Bá D cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Hồ Thị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 122, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Bá D.
- Về con chung:
- Giao con chung là Hồ Bá Bảo D1, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2018 cho chị Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: chị Hồ Thị T không yêu cầu và anh Hồ Bá D chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Hồ Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012752 ngày 09/4/2024.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Hồ Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Hồ Bá D đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 241/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 241/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
