|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 241/2023/DS-PT Ngày 21 - 12 - 2023 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán:
Ông Trần Bá Kha
Bà Trần Thị Chọn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
ông Trang Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2023/QĐPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 1, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài V, sinh năm: 1954; địa chỉ: Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Trần Thụy Q - Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tạ Thị X, sinh năm 1967 (có mặt).
- Ông Nguyễn Hồ Kim S, sinh năm 1976 (có mặt).
- Cùng địa chỉ: Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phạm Thanh T1, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Bân A; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc Q1, sinh năm 1953; địa chỉ: ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh C1; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp C, xã B, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Việt T2, sinh năm 1972; địa chỉ: số A đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoài V – bị đơn; Bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
Nguồn gốc đất bà cho rằng từ nhỏ đến lớn bà sống chung với cha là ông Nguyễn Văn B1 tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Ông Nguyễn Văn B1 chết năm 2000, sau khi ông B1 chết thì các anh em của bà thống nhất giao toàn bộ phần đất trên cho bà toàn quyền sử dụng nên năm 2009 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất với diện tích là 3.323m², tờ bản đồ 03, thửa 360, tọa lạc tại ấp C (nay là ấp B), xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Đất có mặt tiền giáp Rạch đường sân có chiều ngang 35m, hậu giáp đất ông Phan Văn K 28m, cạnh dài giáp đất ông Huỳnh Văn A1 105m, cạnh giáp đất ông Nguyễn Hoài V chuyển nhượng cho bà X, ông S (trước đây là ông N, bà Đ sử dụng) 106m. Nguyên đơn bà C xác định phần đất tranh chấp là của bà được Nhà nước cấp GCNQSD đất. Đối với phần đất ông Nguyễn Hoài Văn c bên đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S sử dụng đã
lấn qua phần đất của bà, trước đây cha bà là ông Nguyễn Văn B1 đã đứng tên GCNQSD đất là 35m mặt tiền, hậu là 28m. Nay bà yêu cầu ông V trả cho bà phần đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số 136-2022 ngày 16/9/2022 có mặt tiền giáp Rạch Đ (cạnh 6 -4) là 2,97m, chiều dài từ mé sông đo lên phía bên giáp đất của bà C (cạnh 4-3) là 11,23m; chiều dài giáp đất ông V chuyển nhượng cho bà X, ông S (cạnh 5-6) là 11,23m, cạnh còn lại (5 - 3) là 2,7m. Phần đất theo tờ trích đo địa chính 137-2022 ngày 16/9/2022, phía bên giáp đất bà C (cạnh 4-3) là 107,70m, phía bên giáp đất ông V chuyển nhượng cho bà X, ông S (cạnh 3-4) là 107,95m, phần đất có cạnh còn lại (cạnh 5 - 4) là 2,7m. Đồng thời, yêu cầu vợ chồng bà X, ông S tháo dỡ 01 phần căn nhà trả lại diện tích đất lấn chiếm sang đất của bà là 10,1m². Có cạnhngang 1,3m, cạnh giáp đất vợ chồng bà X là 15,56m, cạnh giáp bà đất tranh chấp dài 15,56m. Trường hợp không đồng ý trả đất thì phải hoàn trả giá trị QSD đất 10,1m² là 50.000.000 đồng.
Các phần đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn ông Nguyễn Hoài V trình bày:
Về nguồn gốc đất vào năm 1949 ông Nguyễn Thành C2 (cha ông V) nhận chuyển nhượng của ông D1 có chiều ngang 20m dài 117m, nhận chuyển nhượng đất có giấy tay nhưng lâu quá đã thất lạc không còn, cha ông chưa được cấp GCNQSD đất. Năm 1950 cha ông đi kháng chiến giao lại đất trên cho ông Đoàn Hùng N1 (cậu ông C2) quản lý sử dụng, thời điểm đó ông N1 có vợ bà Bảy V1, con gái là bà Đ cùng quản lý sử dụng, sau khi ông N1 chết thì bà V1, bà Đ sử dụng đất đến cuối năm 1994, đầu 1995 thì giao đất lại cho ông canh tác đến năm 2020 ông tiếp tục chuyển nhượng QSD đất trên cho vợ chồng bà X, ông S.
Ông V xác định thời cha ông là ông C2 đi kháng chiến từ 1948 đến khi trở về nhà tại ấp B, xã V, huyện V vào năm 1968, còn ông đi vào năm 1969 đến khi trở về ấp B, xã V là vào năm 1975 nhưng đất trên do vợ ông N1 cùng con ông N1 là bà Đ sử dụng nên chưa trả lại cho ông, đến khi bà Đ giao trả lại vào năm 1995 là chiều ngang 20m, dài 117 có đo đạc từ ranh bà Đỗ Thị A2 trở qua là hết con mương ranh, ranh đất cập bên trước đây là do ông B1 (cha của bà C) sử dụng đã thống nhất ranh cho bên ông là 20m nhưng chỉ nói bằng miệng không có làm giấy tờ gì, không có tiến hành cậm trụ đá làm ranh.
Quá trình sử dụng đất ông V xác định vào năm 1995 khi ông nhận đất sử dụng từ gia đình bà Đ giao lại thì đã có mương ranh ngang 0,7 mét (7 tất), dài 68m do bên ông G (anh bà C đào), đến năm 1996 ông có tiếp tục đào thêm mương ranh nối liền với mương ranh cũ, ông đào chiều dài thêm 24m. Hiện tại mương ranh trên không còn do năm 2020 vợ chồng bà C cuốc vuông phần đất của vợ chồng ông, bà sử dụng đã lấp mương ranh, vợ chồng bà C còn lấn qua đất của ông thêm 02 mét chiều ngang, nay tiếp tục cho rằng ông lấn đất, yêu cầu trả đất thì ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Kim S, bà Tạ Thị X trình bày:
Năm 2020 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng 01 thửa đất của ông V
chiều ngang 20m, chiều dài 117m với giá 150.000.000 đồng, đến nay đã trả được một phần còn nợ số tiền hơn 20.000.000 đồng khi nào làm xong giấy tờ thì giao đủ. Về ranh đất bên bà Đỗ Thị A2 (bên ranh không có tranh chấp) các bên đã thống nhất ranh nên tiến hành cậm 02 cây trụ đá 01 cây trụ đá cậm phía trong hậu và 01 cây trụ đá cậm phía ngoài gần lộ. Đối với ranh đất bên bà C khi thỏa thuận mua bán thì ông V có vào nhà bà C kêu vợ chồng bà ra chỉ ranh nhưng không ra chỉ ranh, chỉ có anh K1 (là cháu bà C) ra chỉ ranh và ký tên sơ đồ đất vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng đất, hiện nay có tranh chấp về ranh đất nên chưa làm GCNQSD đất được. Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng ông, bà tiến hành xây dựng nhà, khi cất nhà vợ chồng ông, bà có kêu ông T4 (là thợ làm nhà) chừa từ mé mương trở qua đất của vợ chồng ông bà 1,5m tiến hành đổ móng, trong lúc đó có ông G1 là anh bà C xuống chơi nên bà X có hỏi ý kiến ông G1 việc bà cất nhà có qua ranh đất của bà C hay không thì được ông G1 trả lời không sao đâu, trong lúc làm giàn móng ông T4 có kêu ông T1 (chồng bà C) làm phụ hồ trong lúc đó ông T1 cũng không nói cất qua đất.
Đối với phần đất tranh chấp giữa bà C với ông V theo sơ đồ bản vẽ khu đất tranh chấp là 144,9m² (trong có một phần nền nhà của vợ chồng ông bà cất trên phần đất tranh chấp 10,1m²) và phần đất giáp kênh đường sân diện tích 31,6m² do vợ chồng ông bà đang quản lý sử dụng. Lý do vợ chồng ông bà sử dụng là do ông V chuyển nhượng QSD đất cho vợ chồng ông bà. Vợ chồng bà X, ông S xác định trong trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C thì vợ chồng ông bà đang quản lý đất đồng ý giao trả cho bà Chưa diện tích đất tranh chấp đang quản lý phần đất trống, đối với diện tích 10,1m² do vợ chồng ông bà đã cất nhà có dính 01 phần đất tranh chấp thì không đồng ý tháo dỡ nhà trả đất mà hoàn trả giá trị QSD là 10.000.000 đồng. Về hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa các bên vợ chồng ông bà không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh T1 trình bày:
Ông Đ1 là người thuê ông đổ đà nhà bà X 01 buổi, sau khi đổ đà xong thì ông có đem GCNQSD đất ra nói đất bên vợ chồng ông là 35m ngang đã cất qua đất ông, ông có đưa GCNQSD đất cho bà X nhưng bà X không có xem. Ông xác định phần đất tranh chấp trên là của vợ chồng ông, không phải của ông V mà ông V chuyển nhượng là không đúng. Nay ông thống nhất với ý kiến của bà C về việc yêu cầu bị đơn ông V trả đất, yêu cầu vợ chồng bà X, ông S tháo dỡ một phần nhà trả đất cho vợ chồng ông.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp QSD đất với bị đơn ông Nguyễn Hoài V.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoài V và vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S (người trực tiếp quản lý đất) giao trả cho bà Nguyễn Thị C phần đất có diện tích 31,6m² và 144,9m² (Trong diện tích 144,9m² trừ ra 10,1m² phần đất nền nhà của vợ chồng bà X, ông S). Đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
- + Phần đất diện tích 31,6m² theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 136-2022 ngày 16/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V có mặt tiền giáp rạch Đường S (cạnh 6 - 4) là 2,97m, chiều dài từ mé sông trở lên phía bên giáp đất của bà C (cạnh 4-3) là 11,23m; chiều dài giáp đất ông V chuyển nhượng cho bà X, ông S (cạnh 5-6) là 11,23m, cạnh còn lại (5 - 3) là 2,7m.
- + Phần đất diện tích 144,9m² theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 137-2022 ngày 16/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V có cạnh: phía bên giáp đất bà C (cạnh 4-3) là 107,70m, phía bên giáp đất ông V chuyển nhượng cho bà X, ông S (cạnh 3-4) là 107,95m, phần đất có cạnh còn lại (cạnh 5 - 4) là 2,7m. Trong diện tích đất 144,9m² trừ ra diện tích 01 phần nền nhà của vợ chồng bà X, ông S đã cất dính vào phần đất tranh chấp diện tích là 10,1m² có hình tam giác cạnh dài giáp phần đất tranh chấp là 15,56m, cạnh dài giáp nhà vợ chồng bà X, ông S là 15,56m, cạnh ngang 1,3m.
- (Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 136-2022 và tờ trích đo địa chính số: TĐ 137-2022 cùng ngày 16/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S tháo dỡ 01 phần căn nhà trả đất diện tích 10,1m².
Giữ nguyên hiện trạng một phần căn nhà của vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S cất trên đất diện tích là 10,1m². Vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S được quyền sử dụng diện tích 10,1m² có hình tam giác cạnh dài giáp phần đất tranh chấp là 15,56m, cạnh dài giáp nhà vợ chồng bà X, ông S là 15,56m, cạnh ngang 1,3m theo hiện trạng tờ trích đo địa chính số: TĐ 137-2022 cùng ngày 16/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V. Vợ chồng bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S có trách nhiệm hoàn trả giá trị QSD đất diện tích 10,1m² cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị C số tiền là 10.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hoài V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S kháng cáo đối với Bản án số 53/3023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nói trên theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự và Luật sư có ý kiến trình bày như sau:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là luật sư Nguyễn Trần Thụy Q trình bày tranh luận cho rằng tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn ông Nguyễn Hoài V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng phần đất giữa bà C và ông V tranh chấp là ông V đã chuyển nhượng giấy tay cho vợ chồng ông
Nguyễn Văn S1 và vợ là bà Nguyễn Thị H1 sau đó ông S1 và bà H1 đã chuyển nhượng giấy tay lại cho bà X và ông S nhưng cấp sơ thẩm không đưa ông S1, bà H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận để đưa ông S1, bà H1 vào người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Hoài V thống nhất lời trình bày của luật sư Q.
Bà X, ông S trình bày: Xin thay đổi nội dung kháng cáo là yêu cầu Hội đồng xét xử hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận để đưa vợ chồng ông S1 và bà H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoài V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S. Yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm sơ thẩm số 53/3023/DS-ST ngày 26/69/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 53/3023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang để đưa vợ chồng ông Nguyễn Văn S1 và vợ là bà Nguyễn Thị H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài V và bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn ông Nguyễn Hoài V cho rằng phần đất tranh chấp ông V đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông S1, bà H1 chiều ngang trước và ngang sau là 20m vào năm 2019, đến năm 2020 vợ chồng ông S1, bà H1 đã chuyển nhượng diện tích đất nói trên lại cho bà X, ông S một phần đất chiều
ngang trước và sau 10m từ mé sông đến sau hậu giáp với phần đất bà C nhưng cấp sơ thẩm chưa đưa vợ chồng ông S1, bà H1 vào tham gia tố tụng. Nay ông yêu cầu Tòa án hủy bản án sơ thẩm để đưa vợ chồng ông S1, bà H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Bà xuân, ông S cũng thống nhất theo yêu cầu của ông V vì thực tế phần đất đang tranh chấp bà chuyển nhượng của vợ chồng ông S1, bà H1 có làm giấy tay với số tiền là 75.000.000 đồng và đã trả đủ số tiền này, ông S1 là người nhận tiền của vợ chồng ông, bà, vợ chồng ông, bà xác định là không có giao tiền cho ông V, sau đó vợ chồng ông, bà đã cất nhà ở giáp ranh đất của bà C. Nay yêu cầu Tòa án hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận để đưa vợ chồng ông S1, bà H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà X, ông S yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm. Bởi vì, nguồn gốc phần đất tranh chấp thực tế là vào năm 2019 ông V đã chuyển nhượng cho ông S1, bà H1 diện tích chiều ngang trước và sau 20m, với giá 150.000.000 đồng, đến năm 2020 vợ chồng ông S1, bà H1 đã chuyển nhượng giấy tay lại cho bà X, ông S (có cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm) chiều ngang trước và sau là 10m, chiều dài từ mé đến sau hậu, với số tiền 75.000.000 đồng giáp với đất của bà C, phần đất còn lại thì ông S1, bà H1 vẫn đang sử dụng. Sau đó vợ chồng bà X cất nhà ở thì bà C tranh chấp. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm ông V còn trình bày nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D2 vào năm 1948 ngang 20m, cha ông đi đánh pháp giao lại cho cậu ông là ông Đoàn Hùng N1 là cha của bà Đ sử dụng, bà Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Đoàn Thị Đ2 nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên là bà Nguyễn Thị Đ3, vào năm 1994 bà Đ3 có gửi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho UBND xã để chỉnh lại nhưng UBND xã không đưa địa chính huyện chỉnh lại giấy GCNQSD đất. Sau đó cha bà Đ3 chết, vào năm 1995 bà Đ3 giao đất lại cho ông sử dụng, nhưng không có làm giấy tờ gì. Trong quá trình sử dụng ông có lên líp trồng cây ăn trái nhưng do ông C nuôi tôm nước mặn thấm vào làm chết cây của ông nên đến năm 2020 ông chuyển nhượng đất cho ông S1, bà H1. Theo ông được biết thì hiện nay GCNQSD đất này còn đứng tên bà Đ3 nhưng tại cấp sơ thẩm ông không có trình bày sự việc này. Do đó, xét thấy yêu cầu của ông V, Luật sư Q, bà X, ông S yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận để đưa những có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng và cần làm rõ nguồn gốc đất là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được mà cần phải hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận giao về Tòa án cấp sơ thẩm để làm rõ thêm nguồn gốc đất, GCNQSD đất, đưa thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng mới giải quyết được toàn diện vụ án và đúng quy định của pháp luật. Xác định đây là tình tiết mới do các đương sự cung cấp chứng cứ mới và trình bày tại phiên tòa phúc thẩm nên cấp sơ thẩm không có lỗi khi bản án bị hủy.
Từ những phân tích và nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoài V, lời trình bày của Luật sư và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S. Hủy Bản án số 53/3023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Hoài V, bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà X, ông Nguyễn Hồ Kim S số tiền là 600.000 đồng theo lai thu số 0002951 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 53/3023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
- Vế án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Hoài V là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Bà Tạ Thị X, ông Nguyễn Hồ Kim S không phải nộp án phí phúc thẩm; Hoàn trả lại cho bà X, ông Nguyễn Hồ Kim S số tiền là 600.000 đồng theo lai thu số 0002951 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 241/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 241/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông C có tranh chấp quyền sử dụng đất với ông V
