|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 241/2025/DS-PT Ngày 20 - 6 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Từ ngày 13 tháng 6 đến ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 298/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 12-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2025/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 317/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 395/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử vụ án dân sự phúc thẩm số: 465/2025/TB-DSPT ngày 26 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm Q, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số E, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 09-3-2023): Bà Ngô Phương Hoàng G, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; có mặt.
2. Ông Đỗ Đình C, sinh năm 1979; có mặt.
Cùng địa chỉ: Số C, ấp B, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hoàng Văn T1 – Đoàn Luật sư Thành phố H; nơi làm việc: Công ty L – Số A Đường số A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Toàn T2, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 09-3-2023): Bà Ngô Phương Hoàng G, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Nguyễn Thị Kiều T3, sinh năm 1986 và ông Phạm Quốc M, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số E, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Tạm trú: Số A Đường số B, Tổ A, Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (bà T3, ông M vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
1.1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q đại diện bà Ngô Phương Hoàng G trình bày:
Bà Nguyễn Thị Diễm Q có quan hệ quen biết với vợ chồng ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T. Từ ngày 02/9/2020 đến ngày 07/8/2022, bà Q có 04 lần cho vợ chồng ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T vay tổng số tiền 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Cụ thể từng lần vay như sau:
- + Ngày 02/9/2020, bà Q cho bà Nguyễn Thị Thanh T mượn số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 01 tháng, hai bên có lập hợp đồng vay (viết tay), đến nay vẫn chưa thanh toán.
- + Ngày 04/12/2021, bà Q cho vợ chồng bà T vay số tiền 2.100.000.000 đồng (hai tỷ một trăm triệu đồng) với thời hạn vay là 01 năm tính từ ngày 04/12/2021, có lập hợp đồng vay (viết tay). Bà T và ông C tự nguyện đưa cho bà Q giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 200, tờ bản đồ số 17 để làm tin. Đến nay vẫn chưa thanh toán.
- + Ngày 07/8/2022, bà Q cho bà T vay số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) với thời hạn là 04 tháng. Giữa hai bên có lập hợp đồng vay (viết tay). Đến nay chưa thanh toán.
- + Đến ngày 13/8/2022, bà Q cho bà T vay số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng) với thời hạn là 01 tháng, giữa hai bên có lập hợp đồng vay (viết tay). Đến nay vẫn chưa thanh toán.
Việc giao nhận tiền được thực hiện trực tiếp tại nhà bà T, ông C. Tại các giấy vay đều không thể hiện lãi suất tuy nhiên giữa hai bên có thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 2%/tháng. Thấy bà T và ông C là người đàng hoàng, có nơi cư trú ổn định lại tích cực làm ăn nên mặc dù quá thời hạn trả tiền bà T vẫn tạo điều kiện cho ông C, bà T vay thêm để làm ăn.
Qúa trình thực hiện hợp đồng vay; bà T, ông C có thanh toán được cho bà Q một số tháng lãi suất; tuy nhiên, hiện tại bà không nhớ là được bao nhiêu tháng. Đến đầu năm 2023, khi bà Q cần tiền yêu cầu ông C, bà T hoàn trả toàn bộ số nợ theo 04 giấy vay nêu trên nhưng ông C, bà T không trả.
Nay bà Q yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết vấn đề sau:
Buộc ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T trả lại cho bà Q, ông T2 số tiền nợ gốc là 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng).
Buộc ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho bà Q, ông T2 số tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật (10%/năm trên số tiền vay tương ứng) cụ thể:
- + Đối với giấy vay tiền ngày 02/9/2020, lãi suất chậm trả tính từ ngày 03/10/2020 đến ngày 12/8/2024: 250.000.000 đồng x 10%/năm x 03 năm 10 tháng 09 ngày = 97.507.800đ (chín mươi bảy triệu năm trăm lẻ bảy nghìn tám trăm đồng).
- + Đối với giấy vay tiền ngày 04/12/2021, lãi suất chậm trả tính từ ngày 05/12/2022 đến ngày 12/8/2024: 2.100.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 08 tháng 07 ngày = 357.028.560đ (ba trăm năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
- + Đối với giấy vay tiền ngày 07/8/2022, lãi suất chậm trả tính từ ngày 08/12/2022 đến ngày 12/8/2024: 100.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 08 tháng 04 ngày = 16.918.020đ (mười sáu triệu chín trăm mười tám nghìn không trăm hai mươi đồng).
- + Đối với giấy vay tiền ngày 13/08/2022, lãi suất chậm trả tính từ ngày 14/9/2022 đến ngày 12/8/2024: 1.200.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 10 tháng 28 ngày = 207.916.632đ (hai trăm lẻ bảy triệu chín trăm mười sáu nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng).
Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Diễm Q và ông Đỗ Toàn T2 là: 4.329.371.012 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 3.650.000.000₫ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi chậm trả là số tiền 679.371.012 đồng (sáu trăm bảy mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng).
Đối với phần trình bày của ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T cho rằng toàn bộ số tiền vay 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) ông C, bà T không nhận mà toàn bộ bà Q giao cho ông M và bà T3 thì bà Q không thừa nhận. Toàn bộ số tiền trên bà Q giao trực tiếp cho bà T và ông C tại nhà bà T và ông C. Sau khi nhận tiền thì phía bà T và ông C đã viết giấy tay cho bà Q đồng thời liên quan đến khoản vay 2.100.000.000đ (hai tỷ một trăm triệu đồng) bà Q giao cho bà T và ông C dưới sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Kiều T3. Bà T và ông C còn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17 tại xã Q, huyện T, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C cho bà Q giữ để làm tin cho khoản vay 2.100.000.000đ (hai tỷ một trăm triệu đồng) theo giấy vay ngày 04/12/2021.
Mặt khác, từ năm 2019 phía bà Q và bà T3, ông M có rất nhiều khoản giao dịch do làm ăn với nhau hoàn toàn không liên quan đến khoản vay 3.650.000.000₫ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) phía bà Q khởi kiện bà T và ông C tại Tòa án. Đối với 04 giấy vay mà bà Nguyễn Thị Kiều T3 viết có nội dung bà T3 vay tiền của bà Q thì bà Q không được biết và không giữ.
Tại phiên tòa, phía bà T và ông C yêu cầu bà Nguyễn Thị Diễm Q trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 651009 đối với thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C thì bà Q đồng ý trả khi án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Ý kiến trình bày của bị đơn ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án:
Vào thời điểm năm từ năm 2020 đến 2022 bà T3 và ông M kinh doanh tiệm vàng cần vốn làm ăn nên đã nhiều lần vay tiền của bà Nguyễn Thị Diễm Q cụ thể theo giấy vay tiền ngày 02/9/2020 vay 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng); ngày 04/12/2021 vay 2.100.000.000₫ (hai tỷ một trăm triệu đồng); Ngày 07/8/2022 vay 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và ngày 13/8/2022 vay tiếp số tiền 1.200.000,000đ (một tỷ hai trăm triệu đồng). Hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 2%/tháng.
Do bà Q và bà T3, ông M rảnh thời gian lệch giờ nhau nên mỗi lần bà Q giao tiền cho bà T3, ông M thường vào nhà bà T ông C để giao cho bà T3, ông M. Khi giao tiền cho vợ chồng bà T3 và ông M thì bà Q lo sợ bà T3 ông M vỡ nợ nên yêu cầu phía vợ chồng ông C bà T (là bạn thân của bà T3 và ông M) làm trung gian viết giấy mượn tiền (tất cả các giấy mà bà Q giao nộp cho Tòa án) đồng thời còn yêu cầu vợ chồng bà T ông C giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông bà cho bà Q để làm tin cho việc vay mượn. Mặc dù, ông C và bà T không được thụ hưởng số tiền bà Q cho vợ chồng bà T3 và ông M vay nhưng do mối quan hệ thân thiết với vợ chồng bà T3 và ông M nên vợ chồng ông bà đồng ý viết những tờ giấy mượn tiền vào tờ ô ly học sinh đưa cho bà Q giữ, sau đó bà Q đã dùng những giấy này để khởi kiện vợ chồng ông C bà T tại Tòa án.
Sau khi vợ chồng ông C bà T biết được bà Q đang khởi kiện đối với số tiền 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) thì vợ chồng ông bà mới gặp trực tiếp bà T3 và ông M để nói về sự việc trên và yêu cầu bà T3 đến Tòa án làm việc để nhận nợ đối với khoản tiền trên nhưng bà T3 không đồng ý.
Sau đó, bà T3 đã chuyển toàn bộ nội dung tin nhắn giao dịch trả lãi suất sang máy của vợ chồng ông C, bà T (nội dung này ông bà đã giao nộp cho Tòa án) và viết 04 giấy vay tiền với nội dung bà T3 vay tiền của bà Q để chuyển cho bà T, ông C để bà T, ông C nộp cho Tòa án nhằm chứng minh sự thật là toàn bộ số nợ trên là bà T3, ông M vay của bà Q chứ không phải vợ chồng bà T ông C vay.
Nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q yêu cầu ông bà trả số nợ gốc 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) và lãi suất thì ông bà không đồng ý do thực tế số tiền này ông bà không vay mượn của bà Q mà do ông M và bà T3 vay và trực tiếp thụ hưởng số tiền này. Yêu cầu Toà án buộc bà T3 và ông M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Q số tiền nợ gốc và lãi theo yêu cầu của bà Q.
Yêu cầu Tòa án buộc bà Q phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 651009 đối với thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C cho ông C và bà T.
1.2. Ý kiến trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc M và bà Nguyễn Thị Kiều T3:
Ông M và bà T3 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các buổi làm việc và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận ý kiến trình bày.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 12-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, đã quyết định:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Áp dụng Nghị quyết số: 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm Q.
Buộc bị đơn ông Đỗ Đình C, bà Nguyễn Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Diễm Q số tiền 4.329.371.012 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng) (làm tròn: 4.329.371.000₫). Trong đó: Nợ gốc là 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi chậm trả là số tiền 679.371.012 đồng (sáu trăm bảy mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng) (làm tròn: 679.371.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Nguyên đơn đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 651009 đối với thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C cho ông C và bà T khi án có hiệu lực pháp luật.
- Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả; quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn kháng cáo, bị đơn ông Đỗ Đình C, bà Nguyễn Thị Thanh T kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng ông bà không có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Diễm Q.
4. Quan điểm của Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, vô tư, khách quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4.2. Quan điểm đối với vụ án:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C phải thanh toán số tiền nợ gốc 3.650.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm 679.371.012đ, tổng cộng 4.329.371.012đ. Chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là “Giấy vay tiền” ngày 02/9/2020 Nguyễn Thị Thanh T vay số tiền 250.000.000đ; ngày 04/12/2021 Nguyễn Thị Thanh T và Đỗ Đình C1 vay 2.500.000.000đ; ngày 07/8/2022 Nguyễn Thị Thanh T vay 100.000.000đ; ngày 13/8/2022 Nguyễn Thị Thanh T vay 1.200.000.000đ. Nguyên đơn cho rằng từ khi bị đơn vay đến nay phía bị đơn chưa trả cho nguyên đơn được khoản nợ gốc và lãi nào. Còn phía bị đơn bà T ông C cho rằng các khoản nợ mà bà Q khởi kiện thực chất là bà Q cho bà T3 vay, vợ chồng bà T chỉ là người ký tên trên giấy vay tiền chứ vợ chồng bà không nhận tiền của bà Q, chứng cứ mà bà T ông C cung cấp là các giấy bà T3 xác nhận số tiền 3.650.000.000₫ là bà T3 vay của bà Q, đồng thời cung cấp các tin nhắn ZALO thể hiện bà Q thường xuyên nhắn tin đòi tiền bà T3, cũng như hình ảnh bà T3 chuyển tiền cho bà Q và các bản sao kê tài khoản ngân hàng do bà T3 chuyển tiền cho bà Q. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 20/5/2025, bà G là người đại diện theo ủy quyền của bà Q cho rằng bà T3 có vay tiền của bà Q và bà Q đã khởi kiện bà T3 bằng vụ kiện khác đã được Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết không liên quan đến các khoản vay này. Hội đồng xét xử đã tạm ngưng phiên tòa theo yêu cầu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai để thu thập hồ sơ giải quyết vụ kiện giữa bà Q và bà T3. Sau khi có kết quả thu thập tài liệu do Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất cung cấp đã thể hiện từ ngày 23/6/2019 vợ chồng bà T3 vay bà Q số tiền 300.000.000đ; ngày 10/6/2022 vay số tiền 700.000.000đ; ngày 17/11/2022 vay bà Q 300.000.000đ, tổng cộng 1.300.000.000đ. Bà Q cho rằng do vợ chồng bà T3 từ khi vay đến khi bà Q khởi kiện thì vợ chồng bà T3 chưa trả cho bà Q bất kỳ khoản tiền nợ gốc và lãi nào, bà Q yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng bà T3 trả cho bà số tiền nợ gốc 1.300.000.000đ không yêu cầu tính lãi; tại bản án sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện thống Nhất đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q buộc vợ chồng bà T3 trả cho bà Q số tiền 1.300.000.000đ. Như vậy, có thể xác định ngoải số tiền 1.300.000.000₫ mà bà Q cho vợ chồng bà T3 vay và vợ chồng bà T3 chưa trả cho bà Q1 được bất cứ khoản nào và không liên quan đến khoản tiền tranh chấp tại vụ án này.
Căn cứ các giấy vay tiền do bà T và ông C ký xác nhận mặc dù bà T ông C cho rằng bà T3 mới là người nhận tiền và là người trực tiếp trả tiền cho bà Q, chứng cứ trả tiền thông qua chuyển khoản cho bà Q sau khi thu thập chứng cứ tại hồ sơ mà bà Q khởi kiện bà T ông C đã thể hiện vợ chồng bà T3 ông M là người hàng tháng thanh toán trả tiền cho bà Q có căn cứ xác định là bà T3 trả cho bà Q các khoản vay mà bà Q khởi kiện yêu cầu bà T ông C trả trong số tiền 3.650.000.000đ, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã yêu cầu phía nguyên đơn cung cấp chứng cứ xác định các khoản bà T3 chuyển trả là trả tiền gì thì phía nguyên đơn cho rằng đây là tiền bà T3 trả của khoản vay khác nhưng từ chối cung cấp chứng cứ chứng minh. Bà Q xác nhận số tài khoản 5915215004096 do bà Nguyễn Thị Diễm Q mở tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T đúng là số tài khoản của bà. Do nguyên đơn đã nhận tiền của bà T3 trả từ ngày 04/01/2021 đến ngày 27/01/2023 và không chứng minh được số tiền bà T3 trả là trả cho khoản vay khác trong khi bị đơn bà T ông C cho rằng là các khoản vay của số tiền 3.650.000.000đ nên cần xác định các khoản mà bà T3 ông M trả cho bà Q theo sao kê tài khoản ngân hàng được tính để trừ vào số tiền nợ gốc 3.650.000.000₫ mà bà Q cho mượn theo các giấy vay tiền mà bà T ông C đã ký nhận nợ. Do bà T ông C ký tên xác nhận vay bà Q số tiền 3.650.000.000₫ theo 04 giấy vay tiền trên bà T ông C cho rằng bà T3 mới là người nhận tiền vay; mặc dù, bà T3 có giấy xác nhận nhưng không được bà Q thừa nhận, nên bà T ông C phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ trên cho bà Q sau khi cấn trừ số tiền mà T3 đã trả cho bà Q theo các sao kê tài khoản của ngân hàng.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đình C.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất theo hướng buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi sau khi cấn trừ số tiền mà bà Nguyễn Thị Kiều T3 đã trả cho bà Q thông qua tài khoản của bà Q tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T.
Giành quyền khởi kiện cho bà T và ông C đối với bà T3 ông M bằng vụ kiện dân sự khác đối với số tiền mà bà T ông C phải thanh toán cho bà Q trong vụ án này và tiền lãi phát sinh.
5. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Đỗ Đình C:
Thực tế, bà T và ông C có viết giấy vay nợ nhưng là mượn cho bà T3, ông M; giữa các bên không có việc giao nhận tiền mà bà T là người giao tiền cho bà T3, ông M. Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ cũng thể hiện, bà T3 là người trả một phần nợ lãi và nợ gốc cho bà T mà không phải là bà Q. Các tài liệu Vi bằng do nguyên đơn đưa ra, nội dung các tin nhắn giữa bà Q và bà T cũng thể hiện bà T không vay tiền của bà Q. Mặc dù vậy, do bà T và ông C đã ký vào các giấy nhận nợ của bà Q nên cũng phải có trách nhiệm trả số nợ này.
Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đối với khoản tiền bà T3 đã chuyển cho bà Q là số tiền bà T đã ký vào các giấy vay nợ để khấu trừ vào khoản nợ của bà T.
Ngoài ra, còn một số nội dung bảo vệ được thể hiện rõ trong luận cứ bảo vệ của bị đơn nộp lưu hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đình C kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và xác định những người tham gia tố tụng đúng, đầy đủ.
[3] Về nội dung tranh chấp và kháng cáo:
3.1. Đối với nội dung kháng cáo cho rằng bị đơn không có nghĩa vụ trả nợ mà nghĩa vụ thuộc về bên thứ ba là bà T3, ông M.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T đều thừa nhận chữ ký và chữ viết bên vay trong các giấy mượn tiền ngày 02/9/2020, giấy vay tiền ngày 13/8/2022, giấy vay tiền ngày 07/8/2022, giấy vay nợ ngày 04/12/2021 do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q cung cấp là của mình. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong giấy mượn tiền khoản vay 2.100.000.000 đồng bà T3 chỉ ký tên là người làm chứng nội dung bà T3 viết: “ Người làm chứng: Hôm nay ngày 04/12/2021 tôi Nguyễn Thị Kiều T3 làm chứng chị T có mượn của cô Q 2.100.000.000đ (hai tỷ một trăm triệu đồng)”; bà T, ông C còn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng bà cho bà Q giữ để làm tin thể hiện bằng việc bà T xác nhận nội dung: “Để làm tin tôi có đưa cho cô Q giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đỗ Đình C, Nguyễn Thị Thanh T, thửa đất số 200, tờ bản đồ số 17” . Việc bị đơn trình bày chỉ ký mượn dùm và nghĩa vụ trả nợ là của bà T3 nhưng giữa các bên không có chứng cứ chứng minh có thỏa thuận nào khác về việc chuyển giao nghĩa vụ cho bên thứ ba và không được nguyên đơn thừa nhận nên không thuộc trường hợp “Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba” theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với 04 giấy vay nợ do bị đơn cung cấp có chữ viết và chữ ký của bà T3 (không có chữ ký bên cho vay của bà Q) vay số tiền của bà Q nhưng không phải do chính bà T3 cung cấp mà bà T trình bày trong quá trình dọn nhà phát hiện cung cấp cho Tòa án và không được nguyên đơn thừa nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn ông C, bà T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
3.2. Đối với nội dung đề nghị khấu trừ số tiền bà T3, M chuyển khoản cho bà Q:
Theo sao kê nội dung chuyển khoản giữa bà T3, ông M và bà Nguyễn Thị Diễm Q tại Ngân hàng N từ thời điểm 02/9/2020 đến 28/02/2023 thể hiện bà T3, ông M rất nhiều lần chuyển tiền cho bà Nguyễn Thị Diễm Q; có lúc chuyển số tiền 42.000.000₫, 6.000.000₫, 19.000.000₫, 21.000.000₫, 190.000.000₫; 80.000.000đ, 250.000.000₫, 2.500.000đ, 250.000₫, 63.000.000đ, 24.000.000đ, 90.300.000đ... và rất nhiều khoản tiền khác; tuy nhiên, chỉ thể hiện thông tin người chuyển và số tiền, không ghi kèm nội dung đó là khoản tiền gì, chuyển vì mục đích gì. Việc chuyển tiền ngoài chứng cứ tin nhắn giữa bà T3 với bà T ra không còn chứng cứ nào khác và nguyên đơn không thừa nhận đó là các khoản bà T3 tiền trả cho khoản vay bà T, ông C ký xác nhận. Quá trình giải quyết sơ thẩm, bà T và ông C trình bày các khoản tiền bà T3 chuyển cho bà Q, ông bà suy đoán đó là tiền lãi của các khoản vay và cũng thừa nhận giữa bà T3, bà Q có nhiều quan hệ vay nợ, làm ăn khác và nhiều giao dịch khác mà ông bà không biết.
Tòa án cấp phúc thẩm đã tạm ngừng phiên tòa, thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện việc bà Q đã khởi kiện 01 vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà T3, ông M tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất và Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật để thi hành. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C cũng thừa nhận giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng T3, M có hợp tác làm ăn, mua bán đất. Đoạn ghi âm mà phía nguyên đơn cung cấp và được ông C thừa nhận giọng nói nhưng cho rằng các bên thỏa thuận sẽ bán phần đất của T3, M trong phần đất mua chung với vợ chồng ông để trả nợ cho bà Q không phải là vợ chồng ông thỏa thuận bán đất để trả cho bà Q; nhưng sau đó T3, M không thực hiện nên mới xảy ra tranh chấp. Điều này cho thấy giữa các bên gồm: Bà Q, vợ chồng bà T3 ông M, vợ chồng bà T ông C có nhiều quan hệ, giao dịch dân sự khác nhau không chỉ là các khoản vay trong vụ án.
Trong vụ án này, Tòa án không làm việc được với bà T3, ông M (do không còn cư trú tại địa phương), ông bà không có lời khai, không có yêu cầu độc lập và không tiến hành đối chất giữa các bên để xác định số tiền bà T3 đã chuyển là trả nợ gốc hay nợ lãi, cho khoản vay nào nên không có cơ sở để xác định số tiền bà T3, ông M đã chuyển cho bà Q là để trả nợ cho khoản vay bà T, ông C ký. Do đó, không có căn cứ để khấu trừ số tiền này vào khoản nợ của bà T, ông C. Bởi lẽ, nếu xác định vợ chồng bà T3, ông M vay thì phải có nghĩa vụ trả nợ toàn bộ khoản vay này mà không phải là vợ chồng ông C bà T. Quá trình giải quyết sơ thẩm, nội dung kháng cáo và trình bày của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm cũng yêu cầu xác định nghĩa vụ trả nợ là của bà T3, ông M mà không yêu cầu hoặc có ý kiến số tiền bà T3 đã chuyển cho bà Q là khoản tiền trả nợ thay cho vợ chồng bà nên không có đủ căn cứ để cấn trừ số tiền của bên thứ ba là bà T3 chuyển để trả nợ thay cho bà T, ông C như đã phân tích.
Đối với ý kiến của bà T, ông C cho rằng mình chỉ đứng ra ký giấy vay mượn tiền thay cho vợ chồng bà T3, ông M và số tiền bà T3, ông M đã chuyển vào tài khoản cho bà Q là các giao dịch dân sự khác, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khi có tranh chấp.
Từ những nhận định trên, kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định bị đơn không có nghĩa vụ trả nợ là không có căn cứ chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 651009 đối với thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17 cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C bà Q đã giữ và tự nguyện trả lại cho vợ chồng ông C, bà T; Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện trên là đúng quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[5] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Đỗ Đình C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đình C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 12-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q.
Buộc bị đơn ông Đỗ Đình C, bà Nguyễn Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Diễm Q số tiền 4.329.371.012 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng) (làm tròn: 4.329.371.000đ). Trong đó: Nợ gốc là 3.650.000.000đ (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi chậm trả là số tiền 679.371.012 đồng (sáu trăm bảy mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm mười hai đồng) (làm tròn: 679.371.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Nguyên đơn đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 651009 đối với thửa 200, tờ bản đồ địa chính số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đỗ Đình C cho ông C và bà T khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng:
Ông Đỗ Đình C và bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu chi phí giám định số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Bà T, ông C đã nộp đủ.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đỗ Đình C, bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.329.371 đồng (một trăm mười hai triệu ba trăm hai mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng).
- Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Diễm Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp 52.500.000₫ (năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009255 ngày 28-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đỗ Đình C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008115 ngày 27-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 241/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 241/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
