TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 241/2024/DS-PT Ngày 11 - 12 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các Thẩm phán: bà Triệu Thị Luyện và ông Nguyễn Việt Hùng.;
Thư ký phiên toà: ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Việt A - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 19/11/2024 và ngày 11/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2024/TLPT-DS ngày 14/10/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 220/2024/QĐ-PT ngày 18/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 364/2024/QĐ-PT ngày 29/10/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 398/2024/QĐ-PT ngày 19/11/2024 giữa:
Nguyên đơn: ông Đào Viết P, sinh năm 1969 (có mặt);
Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964 (vắng mặt);
Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà B: chị Nguyễn Thị Nhật L, sinh năm 1998. Nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (theo văn bản uỷ quyền ngày 10/5/2024); (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị D, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số nhà A, đường V, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Bùi Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số A ngách B K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo: bị đơn – bà Nguyễn Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - ông Đào Viết P trình bày: năm 2008 ông được ông Bùi Văn G (chồng của chị B) thuê trồng rừng thuộc tiểu khu T và Đ, chủ yếu là trồng cây bạch đàn, cây keo và trông coi rừng trên diện tích rừng mà ông G nhận khoán của Công ty TNHH một thành viên L1. Khi thuê không có hợp đồng mà chỉ thoả thuận miệng làm theo kế hoạch và đơn giá từng năm do ông G vạch ra và cử ông làm đội trưởng, ông tự thuê người làm và quản lý một khu vực. Hàng năm đều chốt kế hoạch, xác định các công việc đã làm được và số tiền ông G phải trả cho ông cụ thể. Ngày 02/4/2018 trước sự chứng kiến của Công ty TNHH một thành viên L1 do ông Nguyễn Văn K Giám đốc đại diện, giữa ông và ông Bùi Văn G đã tổng hợp và thống nhất, ông Bùi Văn G còn nợ ông 212.427.000đ tiền công trồng và chăm sóc rừng.
Sau đó khoảng cuối năm 2018, ông Bùi Văn G chết, bà Nguyễn Thị B tiếp tục thực hiện công việc của ông G. Tại Biên bản làm việc ngày 02/4/2019 tại Công ty TNHH một thành viên L1 bà B đã thống nhất sẽ trả ông 212.427.000đ. Nhưng từ đó đến nay bà B chưa trả ông đồng nào, nay ông đề nghị Toà án buộc bà B phải trả ông 212.427.000đ tiền gốc còn nợ và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật, kể từ ngày cam kết trả nợ 02/4/2019 đến ngày xét xử vụ án. Đây là tiền công của ông, do cá nhân bà B còn nợ ông không liên quan gì đến vợ con ông, không liên quan đến người nào khác.
Bị đơn - bà Nguyễn Thị B do bà Nguyễn Thị Nhật L đại diện theo uỷ quyền trình bày: năm 2008 ông Bùi Văn G (là Giám đốc Công ty TNHH B1) có thuê ông Đào Viết P là công nhân của Công ty TNHH B1 trồng rừng thuộc tiểu khu T, mua thêm đất rừng của các hộ dân để trồng rừng, trông coi rừng trên diện tích rừng là 36,8ha ông G nhận khoán của Công ty TNHH một thành viên L1. Cụ thể công việc như thế nào giữa ông G và ông P thì bà không biết.
Sau khi ông G chết, bà tiếp tục thực hiện công việc của ông G. Bà được tiếp cận hồ sơ giấy tờ liên quan do Công ty TNHH một thành viên L1 giữ. Trong đó bà được tiếp cận Biên bản làm việc ngày 31/10/2017 giữa ông G với ông P có sự chứng kiến của đại diện Công ty TNHH một thành viên L1 là Bà Nguyễn Thị Vân A1; Biên bản ngày 02/4/2018 giữa ông G với ông P có sự chứng kiến của đại diện Công ty TNHH một thành viên L1 là ông Nguyễn Văn K. Bà đồng ý với nội dung Biên bản làm việc ngày 02/4/2019 tại Công ty TNHH một thành viên L1 theo đó bà đã thống nhất bà còn nợ anh P 212.427.000đ tiền nhân công. Nhưng vì do phía anh P chưa bàn giao cho bà phần diện tích rừng cụ thể và còn nhiều vấn đề khác bà đã có đơn tố cáo đến Công an huyện L và khởi kiện tại Toà án huyện L nhưng bà lại rút đơn tại Toà án, còn công an huyện L đã trả lời không khởi tố vụ án. Nay ông P khởi kiện đòi bà 212.427.000đ tiền gốc còn nợ và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật, kể từ ngày cam kết trả nợ 02/4/2019 đến ngày xét xử vụ án bà không đồng ý, vì khoản tiền này theo bà được biết thì ông G đã thanh toán trả hết cho ông phương, bà sẽ cung cấp tài liệu về việc thanh toán sau. Việc tranh chấp này không liên quan gì đến các con bà.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: chị Bùi Thị D, anh Bùi Văn T mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị D, anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã: căn cứ Điều 275, 276, 280, 357, 513, 514, 519 Bộ luật Dân sự 2015. Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Viết P. Buộc bà Nguyễn Thị B phải có trách nhiệm thanh toán trả ông Đào Viết P 212.427.000đ tiền gốc và 114.120.000đ tiền lãi suất; tổng cộng cả gốc và lãi suất là 326.547.000đ (Ba trăm hai sáu triệu năm trăm bốn bẩy nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 26/8/2024, bà Nguyễn Thị B kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Chị L đại diện theo ủy quyền của bà B trình bày ý kiến không tranh luận gì, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà B, huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại vì bà B không nợ tiền theo hợp đồng với ông P mà là Công ty TNHH B1.
Ông P không có ý kiến tranh luận.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà B và phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo của bà B, hủy bản án sơ thẩm. Bà B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm,.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai không có lý do của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo mặc dù đã dược triệu tập hợp lệ. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
Xét kháng cáo của bà B, HĐXX thấy:
[2] Nguyên đơn cho rằng, năm 2008 ông P được ông Bùi Văn G (chồng bà B) thuê trồng rừng thuộc tiểu khu T và Đ, chủ yếu là trồng cây bạch đàn, cây keo và trông coi rừng trên diện tích rừng mà ông G nhận khoán của Công ty TNHH một thành viên L1. Phía bị đơn cho rằng việc ký hợp đồng trồng rừng trên là giữa Công ty TNHH B1 và ông P không phải cá nhân ông G.
Ngày 17/10/2017, trước sự chứng kiến của Công ty TNHH một thành viên L1 và đại diện Công ty B1 và ông P ký biên bản làm việc xác nhận đối chiếu công nợ liên quan việc trồng rừng trên; Ngày 31/10/2024, trước sự chứng kiến của Công ty TNHH một thành viên L1 giữa nhóm trồng rừng gồm ông G, bà H và ông P lại ký biên bản làm việc về việc thống nhất số liệu bên lao động đã làm được trồng rừng giữa các bên; 02/4/2018 trước sự chứng kiến của Công ty TNHH một thành viên L1 do ông Nguyễn Văn K Giám đốc đại diện, giữa ông P và ông G đã tổng hợp và thống nhất, ông G còn nợ ông P 212.427.000đ tiền công trồng và chăm sóc rừng.
[2] Ngày 02/4/2019, bà B ký biên bản làm việc xác nhận việc còn nợ của ông P số tiền 212.427.000 đồng. Xét thấy, nội dung tại biên bản ngày 31/10/2017 và ngày 02/4/2018 do ông G ký với biên bản làm việc ngày 02/4/2019 do bà B ký xác nhận đều thể hiện việc ông G còn nợ ông P số tiền 212.427.000 đồng.
Tại cấp sơ thẩm, bà B có khai là chồng bà đã thanh toán hết cho ông G số tiền trên nhưng bà không cung cấp được tài liệu chứng minh. Ngoài ra, bà B trình bày ông G ký hợp đồng với ông P là tư cách của giám đốc công ty TNHH B1 trong biên bản làm việc ngày 17/10/2017 thể hiện nôi dung này.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào biên bản làm việc ngày 02/4/2019 với nhận định đây là thoả thuận của các bên hoàn toàn tự nguyện, là chứng cứ không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự để buộc bà B phải trả ông P số tiền gốc trên và lãi phát sinh kể từ ngày 02/4/2019 khi không tiến hành xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ làm rõ chủ thể tham gia thuê ông P lao động là ai, nếu cá nhân ông G thuê và nợ tiền ông P thì cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ tài sản là di sản thừa kế của ông G để lại để xác định nghĩa vụ của hàng thừa kế thứ nhất làm căn cứ giải quyết vụ án là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án, vi phạm Điều 93, Điều 97 của BLTTDS. Tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được.
[3] Về quan hệ tranh chấp: Toà án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là: tranh chấp hợp đồng dịch vụ căn cứ vào việc năm 2008 giữa ông G và ông P có thoả thuận miệng ông G thuê ông P trồng rừng thuộc tiểu khu T và Đ. HĐXX nhận thấy, hiện các đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh có hợp đồng. Mặt khác, hiện ông G đã chết, số tiền ông P khởi kiện là do ông G nợ tiền công của ông P theo ông P khởi kiện. Như vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại theo quy định tại Điều 615 của Bộ luật dân sự.
[4] Ngày 17/4/2024, Tòa án sơ thẩm đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án để đưa chị Bùi Thị D, anh Bùi Văn T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (BL76). Tuy nhiên các văn bản tố tụng như Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản công khai chứng cứ, Biên bản hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa (các BL33, 49, 51, 55, 72) không có tên những người này tham gia tố tụng là không đảm bảo. Đến ngày 03/7/2024, Toà án mới tiến hành các thủ tục tố tụng đối với chị D, anh T nhưng các văn bản tố tụng lại giao cho chị D để chị D giao lại cho anh T trong khi chị D sinh sống tại thành phố B, anh T sinh sống tại Hà Nội. Toà án không làm việc với chị D về việc đã chuyển giao lại các văn bản tố tụng này cho anh T hay chưa là không đảm bảo, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 73, khoản 1 Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211, Điều 220 và Điều 233 của BLTTDS.
[5] Về yêu cầu tính lãi: do hai bên không có thỏa thuận về mức lãi suất về thời hạn trả tiền nợ gốc. Vì vậy, nếu yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận thì chỉ chấp nhận tính lãi suất mức 10% kể từ ngày khởi kiện (ngày 11/4/2024) đến ngày xét xử là 16/8/2024. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi từ ngày 02/4/2019 là ngày bà B và ông P ký Biên bản làm việc xác nhận số tiền nợ của ông G đến ngày xét xử sơ thẩm là không đảm bảo, không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà B.
[6] Quá trình xét xử, ngày 28/06/2024, HĐXX sơ thẩm quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất do vắng mặt tất cả các đương sự là đảm bảo quy định tại khoản Điều 227 của BLTTDS. Tuy nhiên tại phiên tòa lần thứ hai (BL 89) lại tiếp tục vắng mặt tất cả các đương sự không có lý do, HĐXX sơ thẩm lại tiếp tục hoãn phiên tòa là vi phạm điểm a khoản 2 Điều 227 của BLTTDS. Trường hợp này được coi là nguyên đơn từ bỏ việc khởi kiện và HĐXX sơ thẩm phải ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Từ những nhận định trên, HĐXX thấy Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên toà.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được xem xét khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Về án phí dân sự phúc thẩm: do hủy án sơ thẩm nên bà B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm sẽ xem xét khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 241/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 241/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
