TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 241/2024/HSST
Ngày : 25/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Võ Kim Hường;
2/ Bà Trần Quang Cảnh;
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thuý là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Minh Hoàng là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 254/2024/TLST-HS ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: HỒ VĂN M; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Hồ Văn H(đã chết) và bà Ngô Thị M1, sinh năm 1944; Vợ: Trương Thục N, sinh năm 1976; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; Nhân thân: Ngày 31/3/2011 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về “Đánh bạc” (đã chấp hành xong); Tiền án: Ngày 15/9/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng (chưa chấp hành xong) về tội “Đánh bạc”. Tiền sự: Ngày 29/9/2023 bị Phòng C5 Công an thành phố H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi “Đánh bạc”, đóng phạt ngày 13/10/2023; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/4/2024;
2. Họ và tên: PHẠM VĂN L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 101/70/16 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Phạm Ngọc A (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1949; Vợ: Phạm Thị P, sinh năm 1978 (đã ly hôn); Con: có 02 con, nhỏ nhất sinh năm 2006, lớn nhất sinh năm 2001;
* Nhân thân:
- Ngày 31/3/2007 bị Công an phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 80.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đóng phạt ngày 09/4/2007;
- Ngày 14/5/2013 bị Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đóng phạt ngày 16/5/2013;
- Ngày 18/7/2013 bị Công an P1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đóng phạt ngày 19/7/2013;
- Ngày 11/3/2015 bị Công an phường S, quận T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đóng phạt ngày 17/3/2015;
* Tiền án: Ngày 30/3/2023 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm về tội “Đánh bạc” (chưa chấp hành xong);
* Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024;
3. Họ và tên: PHẠM M2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1964 tại Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: D G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Con ông Phạm Đ (đã chết) và bà Hồ Thị C1 (đã chết); Vợ: Vương Thị T, sinh năm 1964; Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/11/2022 bị Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đóng phạt ngày 10/3/2023; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến ngày 04/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú;
4. Họ và tên: LÊ CHÍ C2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1971 tại Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 179 ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Chỗ ở: A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Lê Chí T1 (đã chết) và bà Dương Thị B (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1985; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; Nhân thân: Ngày 04/4/2014 bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến ngày 04/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú;
5. Họ và tên: PHẠM THÀNH T3; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989 tại Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Con ông Phạm Thành H1 (không rõ năm sinh) và bà Vũ Thị H2 (không rõ năm sinh); Vợ: Trần Thị Thanh T4, sinh năm 1990; Con: có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024;
6. Họ và tên: LÝ VINH L1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991 tại Indonesia; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 8 Miếu B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 8 Miếu B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm công nghệ; Con ông Lý Văn D, sinh năm 1951 và bà Dan Và C3, sinh năm 1955; Vợ: Thạch Thị T5, sinh năm 1996; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến ngày 04/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang C đi khỏi nơi cư trú;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa của bị cáo Hồ Văn M là Luật sư Phan Đức H3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H;
(có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn M, Lê Chí C2, Phạm Văn L, Phạm M2, Phạm Thành T3 và Lý Vinh L1 có quen biết với nhau từ trước. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/4/2024, C2, T3 và L1 uống cà phê tại quán của L, số A N, phường T, quận T thì L có rủ C2, T3, L1 chơi đánh bạc với hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền, cả ba đồng ý. Sau đó, L nói trong phòng ngủ của L có sẵn 01 bảng giấy bầu cua; đĩa và hộp lắc hột bầu cua nên C2 mua 03 bộ hột xốp dùng để lắc bầu cua (03 bộ gồm 09 hột) của 01 người đàn ông bán dạo tại quán cà phê trên. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, L, C2, L1 và T3 vào phòng ngủ của L chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền với tỷ lệ đặt cược thấp nhất là 20.000 đồng và cao nhất là 200.000 đồng.
Hình thức đánh bạc lắc bầu cua thắng thua bằng tiền như sau: Người cầm cái sử dụng 03 hột xốp hình khối vuông, mỗi hột có 06 mặt được dán hình ảnh con cua, tôm, nai, gà, cá, cua và trái bầu. Ba hột xốp trên được bỏ trên 01 cái dĩa bằng nhựa rồi dùng nắp đậy lại để người cầm cái lắc. Khi người cầm cái lắc xong thì người chơi (con bạc) sẽ đặt tiền trên 01 tờ giấy có hình con cua, tôm, nai, gà, cá và trái bầu. Tùy người chơi muốn đặt hình gì thì đặt. Trường hợp người chơi lấy tiền của người khác đặt vào hình khác thì gọi là “Tả”.
Cách tính thắng thua như sau: Khi người chơi đặt tiền xong, người cầm cái sẽ mở nắp đậy ra, nếu hình ảnh trên hột xốp trùng với hình ảnh người chơi đặt thì người chơi thắng và người cầm cái sẽ chung tiền cho người chơi, còn nếu ngược lại thì người chơi thua. Sau khi, chung tiền thì kết thúc 01 ván (Trường hợp đặc biệt nếu hình ảnh trên hột xốp có 02 hoặc 03 hình ảnh trùng với hình ảnh người chơi đặt thì người chơi sẽ thắng gấp đôi hoặc gấp ba).
+ Trường hợp “Tả”: nếu người cầm cái mở nắp đậy ra hình ảnh trên hột xốp tương ứng với hình ảnh người chơi “Tả” thì người “Tả” sẽ thắng gấp đôi: thắng số tiền đặt cược và người cầm phải chung thêm số tiền đặt tương ứng, còn nếu ngược lại thì thua gấp đôi.
Trước khi chơi đánh bạc với hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền, L, C2, T3, L1 đem theo số tiền để đánh bạc như sau: C2 mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, L mang theo số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc, T3 mang theo số tiền 1.460.000 đồng để đánh bạc, L1 mang theo số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc. Khi chơi đánh bạc, C2 là người cầm cái thắng thua với L, T3, L1 và C2 ngồi chính giữa, bên tay phải C2 là L, bên tay phải L là T3, bên tay phải T3 là L1, kế bên tay phải L1 là C2. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, M mang theo 2.180.000 đồng và tự mở cửa đi vào phòng ngủ của L rồi ngồi giữa T3 và L1, đối diện với C2 rồi cùng với L, L1, T3 đánh bạc với C2. Khoảng 10 phút sau, M2 đem theo số tiền 2.200.000 đồng, đi vào ngồi giữa M và L1, đối diện với C2, cùng với L, T3, L1 đánh bạc với C2. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Phương Đ1 và Lê Thanh V đi vào đứng xem nhóm của C2 đánh bạc và không tham gia đặt cược. Đến khoảng 21 giờ 51 phút cùng ngày, Công an phường T và Đội Công an quận T tiến hành kiểm tra hành chính, bắt quả tang nhóm của C2 đang đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền và tạm giữ trong người của M số tiền 2.010.000 đồng, M thua 170.000 đồng tạm giữ tại vị trí ngồi của C2 số tiền 850.000 đồng, C2 thua 150.000 đồng; tạm giữ trên tay của L số tiền 1.400.000 đồng, L thua 1.100.000 đồng; tạm giữ tại vị trí ngồi của M2 số tiền 2.000.000 đồng, M2 thua 200.000 đồng; tạm giữ trong túi quần của T3 số tiền 2.080.000 đồng, T3 thắng 620.000 đồng; tạm giữ tại vị trí ngồi của L1 số tiền 2.500.000 đồng, L1 thắng 1.000.000 đồng. Sau đó, mời tất cả các đối tượng về trụ sở Công an phường T làm việc.
* Vật chứng thu giữ:
- - Số tiền 8.200.000 đồng, gồm: 850.000 đồng thu giữ tại chỗ ngồi của Lê Chí C2, sử dụng để đánh bạc; 7.350.000 đồng thu giữ trong túi quần của C2, sử dụng tiêu xài cá nhân.
- - Số tiền 5.400.000 đồng, gồm: 1.400.000 đồng thu giữ trên tay của Phạm Văn L, sử dụng để đánh bạc; 4.000.000 đồng thu giữ trong túi quần của L, sử dụng tiêu xài cá nhân.
- - Số tiền 2.000.000 đồng thu giữ tại chỗ ngồi của Phạm M2, sử dụng để đánh bạc.
- - Số tiền 2.080.000 đồng thu giữ trong túi quần của Phạm Thành T3, sử dụng để đánh bạc.
- - Số tiền 2.500.000 đồng thu giữ tại chỗ ngồi của Lý Vinh L1, sử dụng để đánh bạc.
- - Số tiền 2.010.000 đồng, thu giữ trong người Hồ Văn M, sử dụng để đánh bạc.
- - 09 hột xốp dùng để lắc bầu cua, dùng vào việc đánh bạc.
- - 01 tờ giấy chơi bầu cua để người chơi đặt cược, dùng vào việc đánh bạc.
- - 01 dĩa nhựa, sử dụng vào việc đánh bạc.
- - 01 hộp giấy hình trụ, bên ngoài có quấn băng keo màu vàng, dùng vào việc đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, số I: 359330187946858, Lê Chí C2 sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu đen, số Imei: 868683046939678, Phạm Văn L sử dụng liên lạc cá nhân.
- - 07 cái ghế nhựa, sử dụng để ngồi khi đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng, số Imei 357329095963742, Phạm M2 sử dụng liên lạc cá nhân.
- - 01 điện thoại di động hiệu Mastel, số Imei: 359366095252997, Phạm Thành T3 sử dụng liên lạc cá nhân.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng hồng, số Imei : 353900105013555, Lý Vinh L1 sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xám, số Imei: 353906107941206, Hồ Văn M sử dụng liên lạc cá nhân.
- - 01 xe máy hiệu Honda SH, màu xám, biển số 52P5-8838, số máy: HI-KF03E6098698HIKPV, số khung: ZDCKF04A04F122438, không bị đục lại số máy, số khung (BL 433). Qua xác minh, xe máy trên do chị Nguyễn Thị Minh T6, địa chỉ C Đ, phường T, quận T đứng tên chủ sở hữu (BL 432). Qua làm việc, chị Nguyễn Thị Minh T6 trình bày ngày 27/4/2024, Lê Chí C2 (em họ chị T6) mượn xe máy trên để đi uống cà phê, chị T6 không biết C2 sử dụng xe máy trên đi tham gia đánh bạc (BL 413) nên Cơ quan điều tra đã trả xe máy trên cho chị T6 (BL 433A).
- - 01 xe máy hiệu Suzuki Hayate, màu đỏ đen, biển số 54M4-2955, số máy: F4A5154296, số khung: RLSCF4EF090146017, không bị đục lại số khung, số máy (BL 384). Qua xác minh, xe máy trên do anh Lưu Vĩnh Đ2, địa chỉ B L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu (BL 380). Qua làm việc, anh Lưu Vĩnh Đ2 trình bày đứng tên chủ sở hữu xe máy trên dùm cho chị Phạm Thị H4 là con gái của M2 (BL 498). Chị Phạm Thị H4 trình bày mua xe máy trên vào năm 2009 với giá 25.000.000 đồng, do không có đăng ký thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh nên nhờ anh Lưu Vĩnh Đ2 đứng tên dùm, ngày 27/4/2024, chị H4 không biết M2 lấy xe đi đánh bạc (BL 382) nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy trên cho chị H4 (BL 383A).
- - 01 xe máy hiệu Honda Airblade, biển số 50N2-141.84, số máy: JF94E0276774, số khung: RLHJF6333MZ118086, không bị đục lại số khung, số máy (BL 300). Qua xác minh, xe máy trên do anh Cao Trường S, địa chỉ 6 Miếu B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu (BL 299). Qua làm việc, anh Cao Trường S trình bày đã bán lại xe máy trên cho chị Thạch Thị T5 vào khoảng tháng 8/2022 với giá 23.000.000 đồng (BL 470). Chị Thạch Thị T5 trình bày ngày 27/4/2024, giao xe máy trên cho Lý Vinh L1 (chồng của chị T5) đi uống cà phê, chị T5 không biết L1 sử dụng xe máy trên để đi đánh bạc (BL 293) nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy trên cho chị T5 (BL 300A).
- - 01 xe máy hiệu Freeway, màu nâu, biển số 59A3-223.91, số khung có dấu vết cắt hàn và số máy bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy (348). Qua xác minh, biển số 59A3-223.91 được cấp cho xe máy hiệu Freeway, màu nâu, số máy MF03E1120617, số khung MF031301798 do anh Nguyễn Minh T7, địa chỉ A17.14 chung cư Bộ C6, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (BL 347). Qua làm việc, anh Nguyễn Minh T7 trình bày hiện đang quản lý và sử dụng xe máy biển số 59A3-223.91, không bị mất biển số 59A3-223.91, không yêu cầu nhận biển số 59A3-223.91.
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 175/LNK-ĐTTH ngày 25/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 146A)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Hồ Văn M, Lê Chí C2, Phạm Văn L, Phạm Thành T3, Phạm M2 và Lý Vinh L1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số 268/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L, Lê Chí C2, Phạm M2, Phạm Thành T3 và Lý Vinh L1 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn M mức án từ đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Văn M chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn L mức án từ đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Văn L chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thành T3 mức án từ đến 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt các bị cáo Lê Chí C2, Phạm Minh S1 tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Lý Vinh L1 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn M là Luật sư Phan Đức H3 thống nhất với lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như hoàn cảnh gia đình bị cáo để từ đó cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L, Phạm Thành T3, Phạm M2 và Lý Vinh L1 nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 27/4/2024, Lê Chí C2, Phạm Văn L, Phạm M2, Phạm Thành T3, Lý Vinh L1, Hồ Văn M đã có hành vi cùng nhau đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.840.000 đồng, tại quán cà phê số A N, phường T, quận T, thì bị phát hiện, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
Đối với Phạm Văn L có hành vi rủ rê, cung cấp địa điểm và công cụ cho Lê Chí C2, Phạm M2, Phạm Thành T3, Lý Vinh L1, Hồ Văn M đánh bạc nhưng Phạm Văn L cũng tham gia đánh bạc và không thu tiền xâu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý Phạm Văn L về hành vi “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc”, là có cơ sở.
Đối với Nguyễn Phương Đ1, Lê Thanh V không tham gia đánh bạc và chỉ đứng xem đánh bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý hình sự hay chuyển xử lý hành chính Nguyễn Phương Đ1, Lê Thanh V về hành vi “Đánh bạc”, là có cơ sở.
Do trong vụ án này, các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L phạm tội trong thời gian thử thách do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án;
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo Hồ Văn M và Phạm Văn L đã bị xử phạt mức án 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm về tội “Đánh bạc”, các bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này được xác định là “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo C2, M2, L1 và T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo C2, M2, L1 và T3, áp dụng quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo M và L; Ngoài ra, các bị cáo C2, L1 là lao động chính duy nhất trong gia đình, bị cáo L có ông nội là Liệt sĩ Phạm Văn C4 được Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo L1 là người thuộc dân tộc thiểu số do đó các bị cáo C2, L1 và L còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong vụ án này, các bị cáo C2 và M2 đã từng bị xử lý hành chính về hành vi “Đánh bạc” tuy nhiên thời gian xử lý đã lâu, căn cứ Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 thì các bị cáo cũng được xem là có nhân thân tốt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Phạm M2, Lê Chí C2 và Lý Vinh L1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có nơi cư trú và công việc ổn định, các bị cáo hiện là lao động chính duy nhất trong gia đình, do đó nghĩ không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo một số tiền nhất định cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo không tiếp tục phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Đối với bị cáo Phạm Thành T3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bị tạm giam gần 07 tháng cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo không tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về hoà nhập với xã hội, có cơ hội trở thành một công dân có ích do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác
[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 và Khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nên miễn cho các bị cáo;
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 850.000 (tám trăm năm mươi ngàn) đồng thu giữ của bị cáo C2; 1.400.000 (năm triệu bốn trăm ngàn) đồng thu giữ của bị cáo L; số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng thu giữ của bị cáo M2; số tiền 2.080.000 (hai triệu không trăm tám mươi ngàn) đồng thu giữ của bị cáo T3; số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng thu giữ của bị cáo L1, 2.010.000 (hai triệu không trăm mười ngàn) đồng thu giữ của bị cáo M. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo sử dụng số tiền trên vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;
Đối với chín (09) hột xốp dùng để lắc bầu cua, một (01) tờ giấy chơi bầu cua để người chơi đặt cược; một (01) dĩa nhựa; một (01) hộp giấy hình trụ, bên ngoài có quấn băng keo màu vàng; 07 (bảy) cái ghế nhựa, sử dụng để ngồi khi đánh bạc là dụng cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ;
Đối với số tiền 7.350.000 (bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn) đồng và một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, số I: 359330187946858 thu giữ của Lê Chí C2; số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và một (01) điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu đen, số Imei: 868683046939678 thu giữ của Phạm Văn L; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng, số Imei 357329095963742 thu giữ của Phạm M2; một (01) điện thoại di động hiệu Mastel, số Imei: 359366095252997 thu giữ của Phạm Thành T3; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng hồng, số Imei: 353900105013555 thu giữ của Lý Vinh L1 và một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xám, số Imei: 353906107941206 thu giữ của Hồ Văn M. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại các tài sản trên cho các bị cáo.
Đối với một (01) xe máy hiệu Freeway, màu nâu, biển số 59A3-223.91, số khung có dấu vết cắt hàn và số máy bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy (348) không xác định được nguồn gốc chủ sở hữu nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với chiếc biển số 59A3-223.91 hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 175/PNK-ĐTTH ngày 25/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T)
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L, Phạm M2, Lê Chí C2, Lý Vinh L1, Phạm Thành T3 phạm tội “Đánh bạc”;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Hồ Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn tù tính bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024;
Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 03 (ba) năm tù đã cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 193/2023/HSST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng buộc bị cáo Hồ Văn M chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/4/2024;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Phạm Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn tù tính bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024;
Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 03 (ba) năm tù đã cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30/6/2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo Phạm Văn L chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/4/2024;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021);
Xử phạt bị cáo:
Phạm Thành T3 06 (sáu) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù;
Thời hạn tù tính bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024;
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Lê Chí C2 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50, Điều 35; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Phạm M2 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50, Điều 35; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Lý Vinh L1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;
* Áp dụng Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 10.840.000 (mười triệu tám trăm bốn mươi ngàn) đồng;
Tịch thu tiêu huỷ: 09 (chín) hột xốp dùng để lắc bầu cua, 01 (một) tờ giấy chơi bầu cua để người chơi đặt cược; 01 (một) dĩa nhựa; 01 (một) hộp giấy hình trụ, bên ngoài có quấn băng keo màu vàng và 07 (bảy) cái ghế nhựa và 01 (một) chiếc biển số 59A3-223.91;
Trả cho bị cáo Lê Chí C2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, số I: 359330187946858 và số tiền 7.350.000 (bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn) đồng;
Trả cho bị cáo Phạm Văn L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu đen, số Imei: 868683046939678 và số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng;
Trả cho bị cáo Phạm M2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng, số Imei 357329095963742;
Trả cho bị cáo Phạm Thành T3 01 (một) điện thoại di động hiệu Mastel, số Imei: 359366095252997;
Trả cho bị cáo Lý Vinh L1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng hồng, số Imei: 353900105013555;
Trả cho bị cáo Hồ Văn M 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xám, số Imei: 353906107941206;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe máy hiệu Freeway màu nâu, số khung có dấu vết cắt hàn và số máy bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 175/LNK-ĐTTH ngày 25/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh)
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày các bị cáo phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật;
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 241/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội "đánh bạc" (gambling)
- Số bản án: 241/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội "Đánh bạc" (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Hồ Văn M, Phạm Văn L, Phạm M2, Lê Chí C2, Lý Vinh L1, Phạm Thành T3 phạm tội “Đánh bạc”
