| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 241/2024/HS-ST
Ngày 07 - 5 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết Mai
Bà Đỗ Thị Thái
Bà Công Thị Minh Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 742/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với:
Bị cáo Lê Xuân L, sinh năm 1990; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: P1803 Tòa SME H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nguyên cán bộ Ngân hàng S; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Xuân K và bà Cù Thị L1; vợ Nguyễn Thị Thúy H; có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền sự: không; tiền án: 02 tiền án. Cụ thể:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Lê Xuân L 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Lê Xuân L 20 năm tù, về tội Tham ô. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lê Xuân L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2021. Hiện bị cáo Lê Xuân L đang chấp hành án tại Trại giam N1 - Bộ C; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Thế H1, sinh năm 1989 và chị Đinh Thị Ngọc L2, sinh năm 1990; cùng nơi cư trú: P22D Chung cư dịch vụ thương mại, số B Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Thành T, sinh năm 1984; nơi cư trú: P901 Tòa SME H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1990; nơi cư trú: P1803 Tòa SME H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Chu Thị Hương N - Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H, thành phố Hà Nội nhận đơn của anh Nguyễn Thế H1 tố cáo Lê Xuân L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 830.000.000 đồng của anh H1 thông qua việc góp vốn mua xe ô tô đấu giá thanh lý tại Ngân hàng S.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu năm 2019, anh Nguyễn Thế H1 và vợ là Đinh Thị Ngọc L2 là cán bộ công tác trong ngành Công an và quen biết Lê Xuân L do cùng tham gia sinh hoạt thể thao. Thời điểm này, L là nhân viên bộ phận xử lý nợ của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng S (có trụ sở tại: Số B phố T, quận T, thành phố Hà Nội). Khoảng tháng 4/2020, L trao đổi với vợ chồng anh H1 và chị L2 là Công ty TNHH MTQ quản lý nợ và khai thác tài sản S, nơi L làm việc đang chuẩn bị bán thanh lý đấu giá xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, biển kiểm soát (gọi tắt: BKS) 30A-595.53, giá khởi điểm là 836.000.000 đồng. L cung cấp ảnh chụp qua điện thoại cho chị L2 xem. L giới thiệu, hiện L đang có khách hàng liên hệ muốn mua lại xe ô tô trên với giá là 930.000.000 đồng (không nói thông tin của khách). L đề nghị vợ chồng anh H1, chị L2 góp tiền để đăng ký mua đấu giá thanh lý xe ô tô trên của Ngân hàng S, còn L góp công sức làm thủ tục, hồ sơ, sau đó bán xe ô tô cho khách; lợi nhuận thu về từ việc bán xe ô tô sẽ chia theo tỷ lệ 60/40; nếu thành công các lần sau sẽ chia theo tỷ lệ 50/50, chị L2 và anh Hiệp đồng ý. Khoảng 02 tháng sau, L sẽ làm thủ tục mua thanh lý được xe ô tô trên và bán lại cho khách, lấy tiền chênh lệch chia nhau. Để vợ chồng anh H1 và chị L2 tin tưởng, L mời vợ chồng anh H1 và chị L2 đến nhà L chơi để biết về hoàn cảnh gia đình. Ngày 18/4/2020, theo hẹn, vợ chồng anh H1 và chị L2 đến nhà L tại P Tòa S, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội.
Ngày 27/4/2020, theo yêu cầu của L, chị Đinh Thị Ngọc L2 đã chuyển vào tài khoản số 50510000280078 của Lê Xuân L mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh B1 - Thanh Hóa số tiền 430.000.000 đồng để mua đấu giá thanh lý xe ô tô Mercedes, BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S như L giới thiệu (có Ủy nhiệm chi, nội dung ghi: Đinh Thị Ngọc L2 chuyển khoản tiền xe ô tô). Sau khi nhận tiền, L về nhà nhờ vợ là chị H đứng tên viết Giấy vay tiền nhưng đề ngày 25/4/2020, nội dung ghi: Tôi là Nguyễn Thị Thúy H có vay của anh Nguyễn Thế H1 số tiền 830.000.000 đồng. Tôi cam đoan sẽ hoàn trả số tiền vay trên cho anh H1 đúng thời hạn – H ký Người viết (không có người chứng kiến). Sau đó, L mang xuống sảnh tầng 1 Tòa chung cư S1 và đưa lại giấy vay tiền này cho vợ chồng anh H1, chị L2 giữ để làm tin. Theo giấy biên nhận tiền, ngày 28/4/2020, chị L2 đã chuyển nốt số tiền là 400.000.000 đồng vào tài khoản của Lê Xuân L mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh B1 - Thanh Hóa để mua đấu giá thanh lý xe ô tô Mercedes (có Ủy nhiệm chi, nội dung ghi: Đinh Thị Ngọc L2 chuyển khoản tiền xe ô tô).
Sau khi nhận số tiền 830.000.000 đồng của vợ chồng anh H1, chị L2, L không làm thủ tục đăng ký mua đấu giá thanh lý xe ô tô Mercedes, BKS: 30A-595.53 với Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng S như đã thỏa thuận. L đã sử dụng số tiền này để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết, cụ thể:
Ngày 27 và 28/4/2020, ngay sau khi nhận tiền do chị L2 chuyển, L đã 09 lần chuyển tiền vào tài khoản số19034120883014 của anh Lê Thành T (sinh năm: 1984, trú tại: P Tòa S, phường Q, quận H, Hà Nội – là anh đồng hao với L) với tổng số tiền là 790.000.000 đồng để trả nợ khoản vay trước đó của L với anh T, nhưng không có giấy tờ biên nhận. Sao kê tài khoản thể hiện nội dung ghi: e lương ck, còn lại số tiền 40.000.000 đồng, L đã rút ra chi tiêu cá nhân hết.
Quá hạn, vào tháng 7/2020, không thấy L trả lại tiền góp đầu tư cũng như tiền lợi nhuận như đã hứa hẹn, anh H1 và chị L2 gọi điện hỏi, nhưng L khất lần, nại ra nhiều lý do để trì hoãn không trả tiền như: do khách chưa trả tiền, đề nghị kéo dài thời gian trả, đề nghị đầu tư tiếp.... Sau đó, L lẩn tránh, không trả tiền, không liên lạc được. Đến tháng 8/2021, anh Nguyễn Thế H1 biết được thông tin Công an quận T khởi tố, bắt tạm giam đối với Lê Xuân L về tội Tham ô tài sản. Anh H1 và chị L2 tìm gặp chị Nguyễn Thị Thúy H (là vợ L) để hỏi và yêu cầu giải quyết về số tiền 830.000.000 đồng mà L đã nhận để mua xe ô tô thanh lý, nhưng chị H không hợp tác do không liên quan đến việc làm ăn giữa L và anh H1.
Ngày 21/10/2021, anh Nguyễn Thế H1 đã làm đơn gửi đến Cơ quan CSĐT - Công an quận H tố cáo Lê Xuân L và Nguyễn Thị Thúy H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền.
Tại cơ quan điều tra, bị can Lê Xuân L khai: Khoảng tháng 4/2020, L làm việc bộ phận xử lý nợ của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng S, có làm hồ sơ xử lý tài sản đảm bảo là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, BKS: 30A-595.53 của bà Vũ Mai P, với giá đấu giá khởi điểm là 836.000.000 đồng. Quá trình xử lý hồ sơ, có người gọi điện cho L hỏi mua xe ô tô trên và trả giá là 930.000.000 đồng (L không biết họ tên, địa chỉ cụ thể). Sau đó, L đã nảy sinh ý định rủ vợ chồng anh Nguyễn Thế H1 và chị Đinh Thị Ngọc L2 góp tiền để đăng ký mua đấu giá thanh lý xe ô tô BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S với giá 836.000.000 đồng, còn L sẽ góp công làm thủ tục hồ sơ mua xe và bán lại cho khách với giá là 930.000.000 đồng để kiếm lời chia nhau, chị L2 và anh Hiệp đồng ý. Trong các ngày 27, 28/4/2020, chị L2 đã 02 lần chuyển khoản cho L với tổng số tiền là 830.000.000 đồng để mua thanh lý xe ô tô BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S như L giới thiệu. Ngay sau khi nhận tiền của vợ chồng anh H1 và chị L2, L không làm thủ tục đăng ký mua thanh lý đấu giá xe ô tô Mercedes, BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S như đã thỏa thuận, mà ngay trong hai ngày 27, 28/4/2020, L đã 09 lần chuyển tiền trả nợ cho anh Lê Thành T với tổng số tiền là 790.000.000 đồng, số tiền còn lại L sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến nay, L không có khả năng khắc phục hậu quả vụ án, trả lại tiền cho bị hại.
Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thúy H (là vợ của Lê Xuân L) khai: Chị H không trao đổi, gặp gỡ, nói chuyện với vợ chồng anh H1, chị L2 về việc liên quan đến mua bán xe ô tô. Tại buổi gặp vợ chồng anh H1, chị L2 tại nhà anh Phạm Vũ Phương D (sinh năm: 1990, trú tại: P cùng Tòa S1 - là hàng xóm sống cạnh căn hộ của L - H) là lần đầu chị H gặp nên chỉ xã giao và không để ý nội dung việc trao đổi giữa L và vợ chồng anh H1. Sau đó, ngày 25/4/2020, L trao đổi với chị H, L và anh H1 đang đầu tư làm ăn chung mua bán xe ô tô thanh lý của Ngân hàng S (nơi L làm việc), do lần đầu làm ăn chung với nhau nên L nhờ H viết 01 giấy vay tiền có nội dung vay 830.000.000 đồng của anh H1. Do tin tưởng chồng nên chị H đồng ý viết giấy vay tiền do L đọc nội dung cho chị H viết và ký xác nhận. Chị H không biết việc vợ chồng anh H1, chị L2 chuyển số tiền 830.000.000 đồng cho L và không biết việc L sử dụng số tiền này, không được L cho tiền liên quan đến việc mua bán xe ô tô để sử dụng.
Quá trình điều tra, anh Lê Thành T khai: Từ ngày 25/4/2020 đến ngày 28/4/2020, Lê Xuân L đã chuyển khoản cho anh T với tổng số tiền là 790.000.000 đồng (có sao kê ngân hàng) để trả nợ khoản vay của L với anh T trước đó. L nhiều lần vay tiền của anh T để kinh doanh, làm ăn, do là người nhà nên không yêu cầu giấy vay tiền, hiện L vẫn còn nợ anh T tiền. Tuy nhiên, đây là việc cá nhân giữa anh T với L nên anh T không yêu cầu, đề nghị giải quyết. Anh T không biết nguồn gốc số tiền 790.000.000 đồng mà L chuyển cho T, nên anh T đã sử dụng để trả nợ cho những người mà anh T đã vay tiền hộ cho L trước đó. Anh T từ chối cung cấp thông tin họ tên, địa chỉ của người cho vay tiền do là việc cá nhân. Hiện anh T không có tiền để giao nộp theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
* Tại bản Kết luận giám định số 8113 ngày 31/12/2021 của V - Bộ C ra, kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Thúy H trên tài liệu giám định Giấy vay tiền đề ngày 24/10/2020 (Ký hiệu A), so với mẫu chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị Thúy H là do chữ cùng một người ký và viết ra.
* Xác minh tại Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng TMCP Đ1 (S) cung cấp:
- Lê Xuân L đã từng công tác tại bộ phận Xử lý nợ miền B - Khối xử lý nợ - Ngân hàng S từ ngày 01/7/2019 đến ngày 06/7/2021, đã bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động tại Ngân hàng S; Thời điểm S xử lý tài sản là xe ô tô nhãn hiệu M Mercedes Benz C250, BKS: 30A-595.53, số khung RLMWF4FX0FV000257, số máy 27492030349240, Lê Xuân L được giao nhiệm vụ là thành viên của Hội đồng xử lý tài sản. Tuy nhiên, L không có quyền quyết định việc bán tài sản, mọi giao dịch liên quan đến tài sản đều phải thông qua Hội đồng xử lý tài sản và tất cả các khoản tiền liên quan đều phải giao dịch qua tài khoản của ngân hàng S;
- Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250, BKS: 30A-595.53, có số khung RLMWF4FX0FV000257, số máy 27492030349240, là tài sản đảm bảo cho khoản vay của bà Vũ Mai P (CMND số [...] do Công an thành phố H cấp ngày 17/6/2009; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, Hà Nội) vay tại Ngân hàng S. Sau khi khoản nợ bị quá hạn dài ngày, bà Vũ Mai P không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đã bàn giao chiếc xe trên cho S để xử lý thu hồi khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận bàn giao, Ngân hàng S đã xử lý bán đấu tài sản thanh lý trên theo đúng quy định của pháp luật và quy định của Ngân hàng S. Ngày 06/5/2020, Ngân hàng S có Thông báo về việc trúng giá mua tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250, BKS: 30A-595.53 cho ông Trần Anh T1 (sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ dân phố số B, phường P, quận B, Hà Nội) với giá 838.000.000 đồng (giá khởi điểm là 836.000.000đồng).
- Trong khoảng thời gian từ ngày 25/4/2020 đến hết ngày 14/5/2020 không có trường hợp nào có tên Nguyễn Thế H1 (sinh năm: 1989) hoặc Đinh Thị Ngọc L2 (sinh năm: 1990) cùng có địa chỉ tại: B, Chung cư D Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội hoặc người đại diện, người được ủy quyền của hai người này liên hệ với Ngân hàng S để đặt cọc và đăng ký mua tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, biển kiểm soát 30A-595.53, số máy 27492030349240, số khung RLMWF4FX0FV000257; Nguyễn Thế H1 (sinh năm: 1989) hoặc Đinh Thị Ngọc L2 (sinh năm: 1990) cùng địa chỉ tại: B, Chung cư D Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội không nộp hồ sơ đăng ký mua tài sản trên tại ngân hàng S.
* Xác minh về xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, BKS: 30A-595.53, xác định: anh Trần Anh T1 (sinh năm: 1978; trú tại: P507 N, chung cư Z, TDP B, phường P, quận B, Hà Nội) là người mua trúng đấu giá thanh lý xe ô tô MERCEDES, BKS: 30A-595.53 trên của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng S với giá là 838.000.000 đồng.
* Phòng C1 cung cấp: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, BKS: 30A-595.53, chủ xe là Ngô Thị T2 (địa chỉ: P, T, TP H, Hải Dương), ngày đăng ký lần đầu: 23/3/2015, ngày đăng ký mới: 03/6/2020;
Tại cơ quan điều tra, anh Trần Anh T1 khai: Anh T1 làm nghề mua bán xe ô tô cũ. Khoảng tháng 4/2020, anh T1 có mua thanh lý xe MERCEDES, BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S phát mại để xử lý nợ và anh T1 đã bán lại xe ô ô trên cho người khác (do thời gian đã lâu nên không nhớ họ tên, địa chỉ cụ thể người mua, không lưu giữ giấy tờ), anh T1 không quen biết người có tên là Ngô Thị T2.
Chị Ngô Thị T2 (sinh năm: 1983, HKTT: phường T, TP H, tỉnh Hải Dương; chỗ ở; xã L, TP H, tỉnh Hải Dương) khai: Chị T2 không mua bán và đăng ký xe ô tô Mercedes Benz C250 màu đen, BKS: 30A-595.53. Chị T2 không quen biết Lê Xuân L, Trần Anh T1. Chị T2 chưa từng đưa Căn cước công dân cho ai để đăng ký xe ô tô.
Anh Đàm Văn Đ (sinh năm: 1983, trú tại: P, phường T, TP H, tỉnh Hải Dương) khai: Anh Đ là chồng cũ của chị Ngô Thị T2 (đã ly hôn tháng 9/2021). Anh Đ có cơ sở kinh doanh mua bán xe ô tô cũ, nhưng với dòng xe ô tô hạng sang, đắt tiền anh D1 không nhập về. Anh Đ khẳng định chưa từng mua, bán xe ô tô có nhãn hiệu Mercedes Benz C250, anh Đ cũng chưa từng sử dụng Căn cước công dân của chị T2 để đăng ký xe ô tô.
Đối với Nguyễn Thị Thúy H là người viết giấy vay số tiền 830.000.000 đồng của anh Nguyễn Thế H1 do chồng là Lê Xuân L nhờ đứng tên, sau đó L đưa cho vợ chồng anh H1 để tạo sự tin tưởng và tiếp tục chuyển tiền cho L, sau đó bị L chiếm đoạt. Qua điều tra xác định, H không tham gia, trao đổi, thỏa thuận, giao dịch chuyển tiền mua xe ô tô thanh lý đấu giá tại Ngân hàng S với Lê Xuân L, anh H1 và chị L2, H không được hưởng lợi, nhận tiền từ việc giao dịch chuyển tiền giữa L với vợ chồng anh H1, chị L2. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị Thúy H đồng phạm với Lê Xuân L về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của vợ chồng anh Nguyễn Thế H1 và chị Đinh Thị Ngọc L2, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Lê Thành T là người nhận số tiền 790.000.000 đồng của Lê Xuân L chuyển khoản để trả cho các khoản vay trước đó giữa L với T. Qua điều tra xác định, T không biết nguồn gốc số tiền trên do L chuyển là do phạm tội mà có, số tiền này T đã sử dụng để trả nợ, chi tiêu hết và từ chối hoàn trả lại số tiền trên. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Lê Thành T đồng phạm với Lê Xuân L về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại trong vụ án, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự.
Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị can Lê Xuân L bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 830.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 576/CT-VKSHN-P3 ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Xuân L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Lê Xuân L tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Xuân L từ 12 năm tù đến 13 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt 21 năm 03 tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 255/2022/HSST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 30 năm tù.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Thế H1 và chị Đinh Thị Ngọc L2 số tiền 830.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận như sau: Tôi không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã viện dẫn đối với bị cáo, chỉ đề nghị tòa xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Đề nghị tòa xử phạt bị cáo 10 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Lời khai của Lê Xuân L tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian tháng 4/2020, do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, Lê Xuân L đã có hành vi gian dối, đưa ra thông tin với người quen là vợ chồng anh Nguyễn Thế H1 và Đinh Thị Ngọc L2 là L đang công tác ở bộ phận xử lý nợ của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản - Ngân hàng S, công ty đang chuẩn bị bán thanh lý đấu giá xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz C250 màu đen, BKS: 30A-595.53 với giá khởi điểm là 836.000.000 đồng. Hiện L có khách hàng liên hệ muốn mua lại xe ô tô trên với giá 930.000.000 đồng, L đề nghị với vợ chồng anh H1 và chị L2 góp tiền để mua thanh lý đấu giá xe ô tô trên của Ngân hàng S, còn L góp công làm thủ tục hồ sơ mua xe ô tô để bán lại cho khách, lấy tiền chênh lệch chia nhau. Tin tưởng L, vợ chồng anh H1 và chị L2 đã chuyển 830.000.000 đồng cho L để góp tiền mua thanh lý đấu giá xe ô tô Mercedes, BKS: 30A-595.53 của Ngân hàng S. Sau đó, L không làm thủ tục mua xe ô tô như đã hứa hẹn, mà đã chiếm đoạt số tiền trên để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Xuân L theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2]. Hành vi của bị cáo Lê Xuân L là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có 02 tiền án, phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Do vậy, phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Ngoài ra, cần tổng hợp hình phạt 21 năm 03 tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 255/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 55; 56 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[2.3]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, còn phải bồi thường một số tiền lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Lê Thành T là người nhận số tiền 790.000.000 đồng của Lê Xuân L chuyển khoản để trả cho các khoản vay trước đó giữa L với T. Qua điều tra xác định, T không biết nguồn gốc số tiền trên do L chuyển là do phạm tội mà có, số tiền này T đã sử dụng để trả nợ, chi tiêu hết và từ chối hoàn trả lại số tiền trên. Tại phiên tòa, bị cáo nhận trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho bị hại, không yêu cầu anh T phải hoàn trả số tiền trên. Do vậy, không buộc anh T phải hoàn trả lại số tiền 790.000.000 đồng mà buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Thế H1 và chị Đinh Thị Ngọc L2 số tiền 830.000.000 đồng là phù hợp với các quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự.
[2.5]. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2.6]. Bị cáo Lê Xuân L phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2.7]. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét vai trò đồng phạm của chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Lê Thành T với Lê Xuân L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.8]. Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Lê Xuân L phải bồi thường cho anh Nguyễn Thế H1 và chị Đinh Thị Ngọc L3 số tiền 830.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Lê Xuân L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 36.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Xuân L: 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 21 (hai mươi mốt) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số: 255/2022/HSST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lê Xuân L phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là: 30 (ba mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2021.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐINH QUỐC TRÍ |
Bản án số 241/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 241/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
