|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 241/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Thiện Lai
- Ông Võ Lâm Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 462/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 445/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé H, sinh năm 1992; địa chỉ: số D, đường N, khóm Thị 1, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: tổ H, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1989; địa chỉ: số D, đường N, khóm Thị 1, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Lê Thị Bé H trình bày:
Bà Lê Thị Bé H và ông Huỳnh Minh T do quen biết trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 03/4/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi không có tiếng nói chung mặc dù cả hai đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà H yêu cầu xin ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Văn S, sinh ngày 04/4/2012; Huỳnh Văn T1, sinh ngày 20/6/2015 và Huỳnh Văn G, sinh ngày 02/7/2019. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Minh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 11/7/2024, ông T trình bày:
Về hôn nhân: Ông T và bà H do mai mối trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2012 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Do hiện nay ông T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A, nay qua yêu cầu ly hôn của bà H thì ông T đồng ý ly hôn. Về con chung và tài sản chung, nợ chung thống nhất với lời trình bày của bà H ông không có ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Lê Thị Bé H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Minh T vắng mặt lần thứ hai và có đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa và có đơn xin vắng mặt tại Tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bé H với ông Huỳnh Minh T.
- Về con chung: Bà Lê Thị Bé H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung tên Huỳnh Văn S, sinh ngày 04/4/2012; Huỳnh Văn T1, sinh ngày 20/6/2015 và Huỳnh Văn G, sinh ngày 02/7/2019. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Lê Thị Bé H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn, nuôi con với ông Huỳnh Minh T nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Huỳnh Minh T với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện C, tỉnh An Giang.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Bé H và bị đơn ông Huỳnh Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé H và ông Huỳnh Minh T là tự nguyện; ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài, không có tiếng nói chung, ông T hiện đang chấp hành án tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh A. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn mục đích hôn nhân không đạt nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T biết về việc bà H xin ly hôn và ông T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H thể hiện qua biên bản ghi lời khai của ông T ngày 11/7/2024, điều này chứng tỏ ông T, bà H không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được xem xét chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Văn S, sinh ngày 04/4/2012; Huỳnh Văn T1, sinh ngày 20/6/2015 và Huỳnh Văn G, sinh ngày 02/7/2019. Sau khi ly hôn, bà Lê Thị Bé H yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông Huỳnh Minh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Do bà Lê Thị Bé H không yêu nên không xét đến.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị Bé H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Bé H được với ông Huỳnh Minh T
Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 03/4/2012 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị Bé H được ly hôn với ông Huỳnh Minh T không còn giá trị pháp lý.
-
Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Văn S, sinh ngày 04/4/2012; Huỳnh Văn T1, sinh ngày 20/6/2015 và Huỳnh Văn G, sinh ngày 02/7/2019.
Bà Lê Thị Bé H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Huỳnh Văn S, sinh ngày 04/4/2012; Huỳnh Văn T1, sinh ngày 20/6/2015 và Huỳnh Văn G, sinh ngày 02/7/2019.
Bà Lê Thị Bé H và các thành viên gia đình bà H phải tạo điều kiện để ông Huỳnh Minh T được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Huỳnh Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0015618, ngày 14/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà H đã thực hiện xong.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Phương Quyền |
Bản án số 241/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 241/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn: Bà Lê Thị Bé H xin ly hôn với ông Huỳnh Minh T
