Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2025/DS-PT.

Ngày: 27 – 5 – 2025.

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Thanh Giang; ông Phạm Văn Diệp.

Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 177/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1965; địa chỉ: khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  2. Người đại diện hợp pháp của ông N: bà Quách Thị Phương T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ủy quyền ngày 28-10-2024); có mặt.

  3. Bị đơn: ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  4. Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn A – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hữu N, quá trình giải quyết và tại phiên toà bà Quách Thị Phương T trình bày:

Cha ông Nguyễn Hữu N là cụ Nguyễn Văn L được thừa hưởng phần đất gò chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp diện tích 17.161,6 m² tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh từ năm 1960-1970. Cụ L trực tiếp sản xuất từ trước năm 1975, đến năm 1982 thì chia cho các con là Nguyễn Thị L1 diện tích 1.670 m², Nguyễn Văn H diện tích 220 m², Nguyễn Thị P diện tích 1.580 m², Nguyễn Phi H1 diện tích 11.480 m² và Nguyễn Hữu N diện tích 2.273 m². Năm 1996, các anh chị em ông N đi kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Riêng ông N năm 1996 có đi đăng ký nhưng bị sót nên không được cấp giấy, do đi làm ăn xa ở Bình Dương đến năm 2020 thì ông N mới đi kê khai đăng ký lại thì được biết ông Nguyễn Văn A cũng đi kê khai đăng ký phần đất này nên xảy ra tranh chấp.

Quá trình sử dụng đất, từ năm 1982 đến năm 2000 ông có trồng lúa, do đất xấu không trồng được cây gì. Đến năm 2005, ông có cho ông Ngô Tấn H2 làm chuồng nuôi bò trên đất tranh chấp. Qua đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp có có diện tích 2.528,9 m².

Nay, ông N yêu cầu công nhận cho ông được quyền sử dụng diện tích đất 2.528,9 m² thuộc 01 phần các thửa đất số 05, 17, 22, 30, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn ông Nguyễn Văn A trình bày:

Phần đất tranh chấp có diện tích 2.528,9 m² thuộc 01 phần các thửa đất số 5, 17, 22, 30, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của ông bà sơ ông là Nguyễn Văn Đ và Trương Thị T1 khai phá năm 1874. Ông bà sơ ông có 04 người con là cố 2, cố 3 (không nhớ tên), cố 4 (Nguyễn Văn C), cố 5 (Nguyễn Văn N1). Cố 2, cố 3 của ông chết nhưng không có vợ, con; còn lại ông cố 4 và cố 5 còn sống. Ông nội của ông Nguyễn Hữu N được thừa hưởng phần đất của ông cố 3 để lại. Còn ông cố 4 là ông cố của ông được thừa hưởng phần đất giáp ranh phần đất tranh chấp (tức là phần đất tranh chấp nằm trong phần đất của ông).

Phần đất tranh chấp từ trước đến nay sử dụng để làm đường đi, có trồng nhãn một thời gian nhưng không được nên bỏ. Sau đó, anh của ông là Nguyễn Tấn P1 có lên nuôi bò trên đất tranh chấp, anh em của ông N có thả bò trên đất tranh chấp. Đến năm 2014, con ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự về nuôi bò trên đất tranh chấp một thời gian. Sau đó, cho ông Ngô Tấn P2 thuê đất thả bò đến nay.

Quá trình sử dụng đất tranh chấp, ông sử dụng từ năm 2014 đến nay. Từ năm 1975 đến trước năm 2014, phần đất tranh chấp do cha và anh của ông sử dụng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N ông không đồng ý, do ông N kiện không đúng, vì lúc đầu khởi kiện chỉ ranh đất là vị trí khác, khi Tòa án đo đạc chỉ vị trí khác.

* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, đã quyết định:

  • - Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn A.
  • Công nhận và buộc ông Nguyễn Văn A giao trả cho ông Nguyễn Hữu N phần đất diện tích thực tế 2.528,9 m², thuộc 01 phần thửa số 05 diện tích 128,3 m², 01 phần thửa 17 diện tích 887,3 m², 01 phần thửa 22 diện tích 98,3 m², 01 phần thửa 30 ( thửa mới 117) diện tích 1.415 m², tờ bản đồ số 37, (có tứ cận, sơ đồ kèm theo).
  • - Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
  • - Ngày 24/3/2025, ông A kháng cáo yêu cầu không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Ông A trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Bà T (đại diện ông N) trình bày: không chấp nhận kháng cáo của ông A.

* Phần tranh luận:

  • - Ông A trình bày: đất tranh chấp giữa ông và ông N có nguồn gốc của ông bà sơ của ông để lại cho con cháu, nay ông là người thừa hưởng.
  • - Bà T trình bày: đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ L (cha ông N) có đầy đủ chứng cứ, đề nghị Toà án không chấp nhận kháng cáo của ông A.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

  • - Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
  • - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: ông Nguyễn Văn A kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ông Nguyễn Hữu N khởi kiện ông Nguyễn Văn A tranh chấp diện tích 2.528,9 m² thuộc 01 phần các thửa đất số 5, 17, 22, 30, tờ bản đồ số 37 ông N cho rằng đất này ông được cha ông tặng cho, có đi đăng ký nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ. Ông A cho rằng đất tranh chấp là của ông do ông bà sơ ông để lại không đồng ý việc khởi kiện của ông N.

[2.2] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: theo kết quả đo đạc và sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 16-3-2023 thì đất tranh chấp giữa ông N và ông A có tổng diện tích 2.528,9 m² gồm: 01 phần các thửa đất số 05 diện tích 128,3 m², 01 phần thửa 17 diện tích 887,3 m², 01 phần thửa 22 diện tích 98,3 m², 01 phần thửa 30 diện tích 1.415 m², tờ bản đồ số 37.

- Tại biên bản làm việc ngày 06-3-2025, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh huyện C cung cấp: thửa đất 30 là thửa bao (thửa lớn) có tổng diện tích 17.145,5 m² được tách thành 02 thửa gồm 116 có diện tích 9.397,7 m² cấp cho ông Nguyễn Văn A cùng với diện tích đất khác nên có tổng diện tích là 10.015 m² và thửa 117 có diện tích còn lại 8.747,98 m² . Như vậy, thửa đất 116 (diện tích 10.015 m²) theo GCNQSDĐ cấp cho ông Nguyễn Văn A không tiếp giáp và cũng không nằm trong diện tích đất tranh chấp.

- Đối với thửa đất 552 theo Công văn phúc đáp số 3347/VPĐKĐĐ-CNCT ngày 23-12-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh huyện C cấp cho ông Nguyễn Phi H1 nằm ở vị trí khác, không liên quan đến đất tranh chấp.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông A thấy rằng:

[3.1] Về chứng cứ: qua các tài liệu thu thập có trong hồ sơ thể hiện, phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ cụ Nguyễn Văn L (cha của ông Nguyễn Hữu N) trồng lúa, sau này cụ L già yếu nên chia cho các con trong đó có ông N và ông N là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Năm 2007, ông N cho ông Ngô Tấn H2 thuê làm chuồng nuôi bò khoảng 10 năm, được ông H2 thừa nhận tại biên bản lấy lời khai ngày 15-5-2023. Ngoài ra, những người dân lân cận đều xác nhận cụ L là người canh tác trên đất tranh chấp từ trước năm 1975. Tại phiên toà sơ thẩm, ông A trình bày: “từ trước ông không có sử dụng đất này, anh của ông là Nguyễn Tấn P1 có lên nuôi bò nhưng không nuôi trên đất tranh chấp”, lời khai của ông A mâu thuẫn lẫn nhau, lúc ông khai ông là người canh tác, sử dụng đất từ năm 2014 đến nay, anh ông là ông P1, con ông thả bò trên đất này. Đồng thời, anh em của ông N có thả bò trên đất tranh chấp kể cả khi ông Ngô Tấn H2 làm chuồng nuôi bò, lúc thì thì khai không sử dụng. Khi ông H2 làm chuồng bò trên đất tranh chấp ông A biết nhưng không có ý kiến phản đối. Năm 2020, sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất từ bà P3 (giáp ranh đất tranh chấp) xong thì ông A mới đi kê khai đăng ký thì xảy ra tranh chấp với ông N.

[3.2] Căn cứ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định đất tranh chấp giữa ông A và ông N có nguồn gốc của cụ L (cha ông N) để lại cho ông N. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là có cơ sở. Ông A kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, nên ông A phải chịu theo quy định khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Tuy nhiên, ông là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn A;
  • - Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
  • - Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật dân sự; Điều 101, 202, 203 của Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 2.528,9 m² của ông Nguyễn Hữu N đối với ông Nguyễn Văn A;
    1. Buộc ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ giao trả cho ông Nguyễn Hữu N được quyền sử dụng phần đất diện tích thực tế 2.528,9 m², thuộc 01 phần thửa số 05 diện tích 128,3 m², 01 phần thửa 17 diện tích 887,3 m², 01 phần thửa 22 diện tích 98,3 m², 01 phần thửa 30 (thửa mới 117) diện tích 1.415 m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (kèm sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 16-3-2023) đất có tứ cận:
      • Đông giáp phần còn lại của thửa 17 dài 24,25 m.
      • Tây giáp mương nước gồm các đoạn 4,51 m; 10,21m; 14,77 m.
      • Nam giáp phần còn lại của thửa 22; 30 (thửa mới 117) gồm các đoạn 37,22 m; 16,92 m; 14,80 m; 5,62 m; 22,27 m; 6,78 m; 14,11 m; 6,78 m; 12,43 m; 20,13 m; 5,25 m;
      • Bắc giáp phần còn lại của thửa 05 gồm các đoạn 35,93 m; 16,26 m; 8,18 m; 11,96 m; 24,26 m; 1,84 m; 19,03 m.
    2. Ông Nguyễn Hữu N căn cứ vào quyết định của bản án này có quyền liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn A.
    2. Ông Nguyễn Hữu N không phải chịu án phí; hoàn trả cho ông N số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0017420 ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
  3. Về chi phí thẩm định, đo đạc, định giá: ông Nguyễn Văn A phải chịu số tiền 5.988.000 đồng, do ông Nguyễn Hữu N đã nộp tạm ứng thanh toán xong, nên ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ nộp hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hữu N số tiền 5.988.000 (năm triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng.
  4. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

  5. Về án phí phúc thẩm dân sự: ông Nguyễn Văn A được miễn.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TPHCM;
  • - VKSNDCC tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tâm

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 241/2025/DS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 241/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Ng với ông A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger