TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 241/2024/HSST Ngày 27/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2024/TLST - HSST ngày 25/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXX ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quí N, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã M, huyện S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ tên cha: ông Nguyễn Quí T; Họ tên mẹ: bà Nguyễn Thị T1; Vợ Bùi Thị B; Có 02 con (lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang Cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện số C; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tòa S, V, xã Đ, H.G, TP . Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình di chuyển trên xe taxi do anh Trương Văn T2, sinh ngày 24/02/2002 tại thôn B, xã B, huyện Đ (là lái xe taxi trong nhóm taxi của V) chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 ở K, V, TP L, tỉnh Lạng Sơn (nơi ở hiện tại: Tòa S 106 V, xã Đ, huyện G, Hà Nội) quen anh T2. Biết chị L có nhu cầu làm visa để đi Đài Loan, anh T2 đã giới thiệu với chị L là Nguyễn Quý N1 có khả năng làm visa. Chị L kết bạn zalo với N1 qua số thuê bao 0859521111, tài khoản zalo là Nguyễn Quý N1) để trao đổi nhờ N1 làm visa giúp chị L. N1 hẹn gặp chị L tại Sân bay N, yêu cầu chị L gửi thông tin cá nhân và hộ chiếu cho N1. Ngày 04/6/2024 chị L đến Sân bay N gặp N1 và đưa hộ chiếu cho N1, N1 thông báo cho chị L về việc làm visa nhanh hết tổng số tiền là 14.150.000đ. Chị L đồng ý và chuyển khoản 02 lần cho Nhân từ tài khoản 19032678762016 Ngân hàng Techcombak của chị L đến số tài khoản 0455522345555 Ngân hàng M của N1 (ngày 04/6/2024 chuyển số tiền 10.000.000đ, ngày 05/6/2024 chuyển khoản 4.150.000₫).
Sau khi nhận tiền của chị L, N1 đã gửi thông tin cá nhân của chị L cho một người không quen biết trên mạng xã hội zalo mà N1 lưu tên là “Con em Hàn Quốc” (số thuê bao zalo là 0914596875). Nhân nhờ cắt ghép hình ảnh, chỉnh sửa thông tin cá nhân của chị L trên visa của người khác với giá 60.000đ, N1 không nói cho người này biết mục đích làm visa để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị L. Ngày 06/6/2024, sau khi nhận được hình ảnh visa của chị L, N1 chuyển khoản số tiền 100.000đ vào tài khoản số [...] Ngân hàng S để trả tiền công.
Nhân gửi ảnh visa đã làm xong cho chị L và bảo chị L đến lấy visa. Do đang ở Đ nên chị L hẹn N1 đến 14 giờ chiều ngày 10/6/2024 sẽ đến lấy visa tại quán cà phê ở tầng 1 Nhà ga T1, Cảng hàng không quốc tế N. Đến chiều ngày 06/6/2024, N1 gọi điện cho chị L nói visa có vấn đề và hẹn 5-7 ngày sau nếu có thì sẽ thông báo, đồng thời gửi hình ảnh tin nhắn giữa L với người Nhân lưu tên zalo là “Công an cửa khẩu” với nội dung “khoảng 5-7 ngày nếu có thì sẽ báo”.
Sau khi phát hiện hình ảnh visa mà N1 gửi qua zalo cho chị L ngày 06/6/2024 sai thông tin nên chị L gửi visa cho các Công ty trước đây chị L từng làm visa Đài Loan thì được biết đó là visa giả, phô tô nên chị L đã đến Công an trình báo và giao nộp tài liệu liên quan.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Quí N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số:200/CT – VKS ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nguyễn Quí N tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai: Do có nhu cầu cần làm visa đi Đài Loan, thông qua anh Trương Văn T2 giới thiệu có quen với Nguyễn Quý N1 có khả năng làm visa. Chị kết bạn zalo với N1 qua số thuê bao 0859521111, tài khoản zalo là Nguyễn Quý N1) để trao đổi nhờ N1 làm visa giúp chị L. Ngày 04/6/2024 chị L đến Sân bay N đưa hộ chiếu cho N1, N1 nói làm visa nhanh hết tổng số tiền 14.150.000đ, chị L đồng ý và chuyển khoản 02 lần cho Nhân từ tài khoản 19032678762016 Ngân hàng Techcombak của chị L đến số tài khoản 0455522345555 Ngân hàng M của N1 (ngày 04/6/2024 chuyển số tiền 10.000.000đ, ngày 05/6/2024 chuyển khoản 4.150.000đ). Sau khi phát hiện hình ảnh visa do N1 gửi là giả nên chị L đã trình báo Công an. Đến nay chị L đã nhận lại toàn bộ số tiền do N1 chiếm đoạt và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho N1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi đánh giá chứng cứ, tính chất vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135; Điều 326; 328; 331 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phạt bị cáo Nguyễn Quí N mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình cơ quan Công an xác minh tại địa phương thể hiện bị cáo làm nghề tụ do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo N đã bồi thường số tiền 14.150.000đ cho chị L, chị L nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội cho tịch thu sung công.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung vụ án đã nêu ở phần trên và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu sài cá nhân Nguyễn Quý N1 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Qua giới thiệu của Trương Văn T2 và biết chị Nguyễn Thị L có nhu cầu làm visa để đi Đài Loan. Sau khi được T2 giới thiệu giữa chị L và Nguyễn Quý N1, chị L và N1 làm quen nhau và hẹn gặp tại sân bay N, N1 thông báo với chị L làm visa nhanh hết 14.150.000đ và yêu cầu chị L gửi thông tin cá nhân, hộ chiếu cho N1. Trong các ngày 04/6 và 05/6/2024 N1 đã nhận của chị L tổng số tiền là 14.150.000₫ (lần 1 là 10.000.000đ; Lần 2 là 4.150.000đ) bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận được thông tin cá nhân và tiền, N1 đã liên hệ với một người trên mạng nhờ cắt ghép chỉnh sửa thông tin cá nhân của chị L và anh vào hộ chiếu của người khác với giá 60.000₫ (N1 không nói cho người này biết về mục đích. Sau khi hoàn tất N1 đã gửi vi sa cho chị L, sau khi phát hiện vi sa do N1 làm là giả nên chị L đã trình báo Cơ quan điều tra về hành vi của N1.
Hội đồng xét xử nhận thấy Nguyễn Quý N1 bản thân không có nghề nghiệp, không có khả năng làm visa nhưng vì tư lợi đã dùng thủ đoạn gian dối nhờ người khác cắt ghép hình ảnh và gửi hình ảnh cắt ghép chỉnh sửa rồi gửi cho chị L để chị L tin tưởng nhằm chiếm đoạt số tiền 14.150.000đ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quý N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại trực tiếp quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi gian dối, sử dụng giấy tờ cá nhân của người khác để chiếm đoạt tài sản; vì mục đích tư lợi bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc truy tố bị cáo ra trước pháp luật là cần thiết và cần phải có một mức án phù hợp tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.
[3] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định.
- - Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Trong giai đoạn điều tra bị cáo đi cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm cai nghiện số 03 TP . Hà Nội.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, các con còn nhỏ, đang tuổi ăn học, bản thân đã nhận ra sai phạm; Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt 14.150.000₫ và được Người bị hại chị L có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo.
Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nhận thấy không cần thiết cách ly bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình cơ quan Công an xác minh tại địa phương thể hiện bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 14.150.000đ cho chị L, chị L nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội cho tịch thu sung công.
[7]. Đối với anh Trương Văn T2: Là người giới thiệu chị L gặp Nguyễn Quí N để chị L nhờ N làm visa, anh T2 không biết và không tham gia cùng N, không được hưởng lợi từ Nhân nên không có căn cứ xem xét xử lý.
- * Đối với đối tượng N nhờ cắt ghép chỉnh sửa hình ảnh visa của chị L: Do N khai mới quen trên mạng xã hội, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
- * Đối với chủ tài khoản 000009908174 nhận khoản tiền 100.000₫ mà Nguyễn Quý N1 chuyển trả tiền công chỉnh sửa visa của chị L: quá trình điều tra làm rõ người đăng ký mở tài khoản tại Ngân hàng S Chi nhánh N2 là chị Nguyễn Thị T3 (CMND số [...] cấp ngày 18/7/2013), sinh ngày 12/10/1979, trú tại địa chỉ số B N, phường N, quận L, Hà Nội, số điện thoại 0914.596.xxx. Xác minh tại Công an phường N, quận L, Hà Nội không có người nêu trên sinh sống, làm việc trên địa bàn; tra cứu hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia đối với Nguyễn Thị T3 (có tên tuổi, địa chỉ nêu trên) thì không có trong cơ sở dữ liệu.
- * Đối với số điện thoại 0914.596.xxx đăng ký mở tài khoản tại Ngân hàng S: Đã tiến hành tra cứu tại Tổng công ty H (net) xác định chủ thuê bao là anh Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 05/9/1979, địa chỉ: xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Công an xã K, huyện Đ lấp, tỉnh Đắk Nông có văn bản trả lời không có người nêu trên sinh sống, làm việc trên địa bàn; tra cứu hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia đối với Nguyễn Hữu T4, không có dữ liệu xác định được người này hiện đang làm gì, ở đâu. Do đó không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý đối với người mà N1 nhờ cắt ghép, chỉnh sửa ảnh làm visa cho chị Nguyễn Thị L.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Nguyễn Quí N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Quí N cho UBND xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng: Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Việt Hùng |
Bản án số 241/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 241/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
