TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 241/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 232/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 463/TB-TA ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đăng H, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đăng L và bà Trần Thị T; vợ là Nguyễn Thị Bảo Y và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/8/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
2. Nguyễn Tiến T1, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1995, tại Bắc Ninh. Nơi cư trú: Thôn D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tiến T2 và bà Nguyễn Thị T3; vợ là Lê Yến N; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 130/2022/HS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 16 tháng tù cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (chưa xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
3. Đỗ Quang T4, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1989, tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hoá: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Quang H1 (đã chết) và bà Phạm Thị L1; vợ là Đỗ Thị H2; có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 100/2023/HS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đang thi hành án); bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/8/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH L2 (Công ty L3); trụ sở: Lô E, thuộc khu K - C, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện theo Uỷ quyền của bị hại: Ông Park J - Giám đốc An ninh Công ty, có mặt.
Người phiên dịch của ông Park Jin S: Chị Nguyễn Thị Quỳnh H3 - Nhân viên Công ty, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng H: Bà Hoàng Thị H4, Luật sư thuộc Văn phòng L4 và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số G P, Phường H, Quận H, Thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến T1: Ông Nguyễn Đăng K, Luật sư thuộc Văn phòng L5, Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A Q, Phường H, Quận H, Thành phố Hải Phòng, tại phiên toà bị cáo từ chối người bào chữa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Quang T4: Ông Nguyễn Văn C, Luật sư thuộc Văn phòng L6, Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A đường B thị trấn N, Huyện T, Thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đoàn Văn D, anh Nguyễn Văn P, anh Trần Văn H5, anh Trần Văn M, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/03/2023, Công ty TNHH L2 (Công ty L3) là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, người đại diện theo pháp luật là: Suk M, Tổng giám đốc, địa chỉ: Lô E, thuộc khu K - C, xã H có đơn trình báo gửi đến Công an huyện A về việc Công ty L3 bị mất một số kim loại thải, khay nhựa tại toà nhà H2 của công ty.
Công ty L3 kiểm tra dữ liệu camera an ninh từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2022 phát hiện Đỗ Quang T4 (bảo vệ Công ty L3), Nguyễn Tiến T1 (lái xe thuê cho Công ty TNHH V), Nguyễn Đức P1 và Nguyễn Đăng H (công nhân của Công ty L3) cùng Đoàn Văn D (sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, Bắc Giang - lái xe của Công ty V), Nguyễn Văn P (sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã V, G, Bắc Ninh - lái xe của Doanh nghiệp tư nhân V1) đã cùng nhau trộm cắp, vận chuyển các khay nhựa phế liệu màu trắng của công ty L3 ra ngoài, mang đi tiêu thụ. Công ty L3 tiến hành kiểm đếm xác định tài sản bị mất là 52.110 khay nhựa (KT 35cm x 30cm x 01cm) đã qua sử dụng; 08 pallet bằng nhựa, màu xanh (KT 120cm x 100cm x 14cm) đã qua sử dụng, có trọng lượng là 43,2 kg; 20 pallet bằng nhựa, màu đen (KT 110cm x 110cm x 12cm) đã qua sử dụng, có trọng lượng là 120 kg; 02 pallet bằng gỗ (KT 144cm x 114cm x 12,5cm) đã qua sử dụng, có trọng lượng là 40 kg. Theo Công ty L3 trị giá tài sản bị mất trộm khoảng hơn 1.500.000.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 67 ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: tổng số khay nhựa và các pallet của Công ty L3 bị chiếm đoạt có trị giá là 1.254.708.000 đồng (một tỷ hai trăm năm mươi tư triệu bảy trăm linh tám ngàn đồng).
Kết quả điều tra xác định: Nguyễn Tiến T1 là lái xe của Công ty V được phân công điều khiển xe ôtô BKS 99H-005.40 chở hàng hóa cho Công ty L3. Vì vậy, đầu năm 2022, Nguyễn Đức P1 là nhân viên Công ty L3 trao đổi với T1 về việc trộm cắp các khay nhựa đã qua sử dụng của công ty L3 mang đi bán để lấy tiền chia nhau. Trong đó, T1 sẽ là người lái xe ô tô chở các khay nhựa và liên hệ với lực lượng bảo vệ để cho hàng ra ngoài. T1 trao đổi với Đỗ Quang T4 là nhân viên bảo vệ, làm việc ca tối tại cổng C của Công ty L3, sẽ cho xe ô tô của T1 ra ngoài, không phải kiểm tra theo quy định. Để chuyển các khay nhựa lên xe ô tô, P1 rủ Nguyễn Đăng H là nhân viên Công ty L3 cùng tham gia thực hiện. Cả nhóm thống nhất số tiền có được từ việc trộm cắp khay nhựa sẽ chia theo công sức của từng người. Trong khoảng thời gian từ ngày 25/3/2022 đến ngày 03/6/2022, các đối tượng đã nhiều lần cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ 19 phút ngày 25/3/2022, P1 và T1 lấy 04 pallet nhựa có tổng số lượng là 6.948 khay, để lên xe ô tô của T1, chở đến cửa hàng sắt vụn ở Bắc Ninh bán cho Trần Văn H5 (sinh năm 1984, trú tại: khu I phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) được 28.800.000 đồng. T1 không nói cho H5 biết nguồn gốc số khay nhựa chiếm đoạt của Công ty L3. T1 chuyển khoản cho P1 14.500.000 đồng, chuyển khoản cho T4 1.000.000 đồng tiền, trả tiền cước xe cho Công ty V 1.100.000 đồng, T1 giữ lại 12.200.000 đồng. P1 chuyển cho H 4.500.000 đồng.
Do bị Công an giữ giấy phép lái xe, nên 05 lần trộm cắp sau T1 đã thuê Đoàn Văn D (điều khiển xe ôtô biển số 99H-006.07) và Nguyễn Văn P (điều khiển xe ôtô biển số 99C-192.32) chở hàng từ trong Công ty L3 ra ngoài. Khi D hoặc P điều khiển xe chở hàng, T1 sẽ báo cho T4 biết để cho xe qua cổng Công ty L3.
- Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ 11 phút ngày 14/4/2022, P1 và H lấy 06 pallet nhựa có tổng số lượng là 10.422 khay, để lên xe ô tô của D chở đến bãi của Công ty N1 (xã Q, huyện A, Hải Phòng). H giao dịch bán số khay trên cho Trần Văn M (sinh năm 1987, trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện A, Hải Phòng) được 147.000.000 đồng. H chuyển khoản cho P1 81.800.000 đồng, giữ lại 65.200.000 đồng. P1 chuyển khoản cho T1 42.775.000 đồng, giữ lại 39.025.000 đồng. T1 chuyển khoản cho T4 2.500.000 đồng, (chuyển trả tiền cước xe cho Công ty V 6.700.000 đồng) và D 8.300.000 đồng, giữ lại 25.275.000 đồng.
- Lần thứ 3: Khoảng 18 giờ 32 phút ngày 24/4/2022, P1 và H lấy 05 pallet nhựa có tổng số lượng là 8.685 khay, để lên xe ô tô của D chở đến bãi của Công ty N1. H bán số khay trên cho M được 76.500.000 đồng. H chuyển khoản cho P1 41.000.000 đồng, giữ lại 35.500.000 đồng. P1 chuyển khoản cho T1 23.950.000 đồng, giữ lại 17.050.000 đồng. T1 chuyển khoản cho T4 1.000.000 đồng, trả tiền cước xe cho Công ty Hiểu Bảo 3.050.000 đồng và D 4.400.000 đồng, T1 giữ lại 15.500.000 đồng.
- Lần thứ 4: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10/5/2022, P1 và H lấy 06 pallet nhựa có tổng số lượng là 10.422 khay, để xe ô tô của P chở đến bãi của Công ty N1. H bán số khay trên trên cho M được số tiền 67.500.000 đồng. H chuyển khoản cho P1 32.350.000 đồng, giữ lại 35.150.000 đồng chi tiêu cá nhân. P1 chuyển khoản cho T1 19.650.000 đồng, giữ lại 12.700.000 đồng. T1 chuyển khoản cho T4 5.500.000 đồng, trả cước xe cho P 2.000.000 đồng, giữ lại 12.150.000 đồng.
- Lần thứ 5: Khoảng 21 giờ 54 phút ngày 16/5/2022, P1 và H lấy 04 pallet nhựa có tổng số lượng là 6.948 khay, để lên xe ô tô của P đi cùng P1 chở đến bãi của Công ty N1. H thỏa thuận bán số khay trên cho M được 87.000.000 đồng. H chuyển cho P1 51.700.000 đồng, giữ lại 35.300.000 đồng. P1 chuyển cho T1 24.900.000 đồng, giữ lại 26.800.000 đồng. T1 chuyển cho T4 5.500.000 đồng tiền, trả tiền cước xe cho P 2.500.000 đồng, giữ lại 16.900.000 đồng.
- Lần thứ 6: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/6/2022, P1 và H lấy 05 pallet nhựa với tổng số lượng là 8.685 khay, để lên xe ô tô của D chở đến bãi của Công ty N1. H thỏa thuận bán số khay trên cho M được 63.440.000 đồng. H chuyển cho T1 21.700.000 đồng, chuyển cho P1 18.000.000 đồng, giữ lại 23.740.000 đồng. T1 trả tiền cước xe cho Công ty V Bảo 2.600.000 đồng và D 1.950.000 đồng, giữ lại 17.150.000đ chi tiêu cá nhân.
Quá trình điều tra Nguyễn Đức P1 vắng mặt nơi cư trú, chính quyền địa phương và gia đình không biết P1 đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã bị can đối với Nguyễn Đức P1 từ ngày 22/5/2024.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị can Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Quang T4 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Khi T1 thuê Đoàn Văn D và Nguyễn Văn P chở các khai nhựa từ Công ty L3 đến khu vực bãi Công ty N1, T1 không nói cho D và P biết nguồn gốc số khay nhựa được thuê vận chuyển là tài sản chiếm đoạt của Công ty L3. T1 và H là người tìm nơi tiêu thụ số khay nhựa chiếm đoạt được của Công ty L3. T1 bán khay nhựa (lần 1) cho Trần Văn H5, H bán 05 lần khay nhựa cho Trần Văn M. Khi bán khay nhựa, T1 và H không nói cho H5 và M biết rõ nguồn gốc số tài sản là chiếm đoạt của Công ty L3 mà có.
Đoàn Văn D, Nguyễn Văn P, Trần Văn H5, Trần Văn M khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Các đối tượng đều trình bày khi vận chuyển và mua bán số khay nhựa trên, không biết rõ nguồn gốc là do các bị can chiếm đoạt của Công ty L3.
Công ty L3 trình bày phù hợp với nội dung nêu trên. Công ty L3 chưa nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt.
Lời khai của các bị can, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của những người liên quan, nội dung bản Kết luận định giá tài sản, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng: Quá trình điều tra gia đình bị can Nguyễn Tiến T1 tự nguyện nộp 99.175.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho Công ty L3, chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty L3 yêu cầu các bị can phải bồi thường trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.254.708.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 228/CT-VKSHP-P3 ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Quang T4 về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Quang T4 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, phân tích hành vi phạm tội đánh giá tính chất vụ án, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Đăng H từ 16 đến 17 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến T1 từ 15 đến 16 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đỗ Quang T4 từ 14 đến 15 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với 12 năm tù tại bản án số 100 ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án, trừ thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Trả lại Công ty L2 số tiền 99.175.000 đồng.
Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố. Các luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức của Viện Kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh : Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/3/2022 đến ngày 03/6/2022, lợi dụng sơ hở trong quản lý của công ty L3, Nguyễn Đức P1, Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Quang T4 đã cùng nhau 06 lần chiếm đoạt tài sản là khay nhựa đã qua sử dụng của Công ty LGD mang đi bán lấy tiền tiêu xài, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.254.708.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Quang T4 đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt trị giá là 1.254.708.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.”
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh con người Việt Nam nên phải xử phạt nghiêm để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Xét vai trò của bị cáo: Trong vụ án có đồng phạm nhiều bị cáo tham gia, Hội đồng xét xử phân hoá các bị cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Đăng H là người thực hành tích cực, trực tiếp cùng P1 trộm cắp tài sản 06 vụ, tìm người tiêu thụ tài sản, bán tài sản chiếm đoạt được, nhận tiền chuyển cho P1 và cho các đồng phạm khác. H được hưởng lợi 199.390.000 đồng.
Nguyễn Tiến T1 là người thực hành tham gia 06 vụ, trực tiếp lái xe và tìm người khác lái xe, liên lạc với T4 là bảo vệ để cho xe chở tài sản chiếm đoạt được mang đi tiêu thụ. Trực tiếp bán tài sản chiếm đoạt được, T1 hưởng lợi 99.175.000 đồng.
Đỗ Quang T4 là người giúp sức cho các đồng phạm khác tham gia 06 vụ, bỏ qua thủ tục kiểm tra hàng hóa, cho xe ô tô chở tài sản chiếm đoạt được mang đi tiêu thụ để hưởng lợi 15.500.000 đồng.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 đã bồi thường 99.175.000 đồng cho bị hại, nên bị cáo T1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Tài sản các bị cáo chiếm đoạt lớn. Hậu quả của vụ án mới được bị cáo T1 khắc phục một phần (bồi thường 99.175.000 đồng), các bị cáo H, T4 chưa bồi thường nên xử phạt các bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Tiến T1 nhân thân có 01 tiền án, tại Bản án số 130/2022/HS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 16 tháng tù cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, nên bị cáo phải chấp hành cùng một lúc 02 bản án.
Bị cáo Đỗ Quang T4 nhân thân có 01 tiền án, tại Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đang thi hành án nên sau khi quyết định hình phạt của tội mới sẽ tổng hợp với hình phạt của bản án trước buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án. Thời gian đã chấp hành của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt chung.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Công ty L3 yêu cầu các bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.254.708.000 đồng. Xét yêu cầu của bị hại là chính đáng và có căn cứ nên buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường toàn bộ số tiền là 1.254.708.000 đồng. Chia kỷ phần mỗi bị cáo 418.236.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Tiến T1 đã bồi thường 99.175.000 đồng nên còn phải bồi thường tiếp 319.061.000 đồng.
[11] Về xử lý vật chứng: Số tiền 99.175.000 đồng của bị cáo Nguyễn Tiến T1 nộp lại để khắc phục hậu quả cho bị hại nên trả cho Công ty TNHH L2.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[14] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Đức P1 đang bị truy nã, Cơ quan điều tra tách vụ án đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra, khi nào bắt được, xử lý sau.
Đối với Đoàn Văn D, Nguyễn Văn P (lái xe thuê chở khay nhựa) và Trần Văn M, Trần Văn H5 (mua khay nhựa) của các bị can. Kết quả điều tra chứng minh, các đối tượng này không biết rõ nguồn gốc hàng hóa là do các bị can phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng H phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt Nguyễn Đăng H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 27/8/2024.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T1 phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt Nguyễn Tiến T1 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 16/5/2024.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang T4 phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt Đỗ Quang T4 14 (mười bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 năm tù tại Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/6/2022 (Theo Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng).
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Buộc các bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1 và Đỗ Quang T4 phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH L2 số tiền 1.254.708.000 (một tỷ hai trăm năm mươi tư triệu bảy trăm lẻ tám nghìn) đồng. Chia kỷ phần mỗi bị cáo 418.236.000 (bốn trăm mười tám triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn) đồng. Bị cáo Nguyễn Tiến T1 đã bồi thường 99.175.000 (chín mươi chín triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng nên còn phải bồi thường tiếp 319.061.000 (ba trăm mười chín triệu sáu mươi mốt nghìn) đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho Công ty TNHH L2 số tiền 99.175.000 (chín mươi chín triệu một trăm bảy lăm nghìn) đồng.
(Uỷ nhiệm chi lập ngày 08/11/2024 giữa Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H với Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Tiến T1 và Đỗ Quang T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Đăng H phải nộp 20.729.440 (hai mươi triệu bảy trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi bốn) đồng, bị cáo Đỗ Quang T4 phải nộp 20.729.440 (hai mươi triệu bảy trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi bốn) đồng và bị cáo Nguyễn Tiến T1 phải nộp 15.953.050 (mười lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 241/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 241/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 16 năm tù
