TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 241/2024/HS-ST Ngày: 26/11/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Bảo Long
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Long
- Ông Nguyễn Anh Đức
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 221/2024/HSST ngày 14/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐHPT-ST ngày 31/10/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN TIẾN A, sinh năm 1978; ĐKHKTT và chỗ ở: P0903 CT7, chung cư B, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Nhà báo; Văn hoá: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Lê H; Họ và tên mẹ: Hán Thị K; Vợ là: Ma Thị Xuân T; Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự:
- Bản án số 03/2006/HS-ST ngày 13/02/2006, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích).
- Bản án số: 201/2023/HSST ngày 18/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định, tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 13/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 năm 09 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt 05/5/2022.
Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam S1, huyện B, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo – Luật sư Đỗ Thị H1, Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1; Trụ sở: B13, khu Đ, huyện T, TP Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị X, Trưởng văn phòng (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Gia T1, sinh năm 1973; Trú tại: số B, ngách H, đường T mới, xóm Á, xã T, huyện T, TP Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Trọng B, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/3/2020, Nguyễn Tiến A cùng vợ là chị Ma Thị Xuân T ký hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2003232284619 với ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) - Chi nhánh sở giao dịch quận H với nội dung: A và chị T thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 mang BKS: 30G-290.37 làm tài sản bảo đảm và để vay của V1 số tiền là 783.000.000 đồng, trong thời hạn 84 tháng kể từ ngày 27/3/2020 đến ngày 27/3/2027; V1 giữ bản chính chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497 của xe ô tô mang BKS: 30G-290.37, đăng ký tên chủ sở hữu là chị Ma Thị Xuân T; A và chị T được tiếp tục quản lý, sử dụng xe ô tô BKS: 30G-290.37. Cùng ngày, Hợp đồng số LN2003232284619 được V1 yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng cấp văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng đối với giao dịch nói trên nhưng hợp đồng không được công chứng nên không có thông tin trong hệ thống chương trình quản lý thông tin ngăn chặn và hợp đồng, giao dịch đã công chứng (UCHI) của Sở tư pháp - UBND thành phố Hà Nội.
Khoảng tháng 4/2020, A nhận được một số tin nhắn (hiện không xác định được số thuê bao) giới thiệu làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức gửi đến số điện thoại 0905.520.xxx của A. Cũng trong thời gian này, A có nợ anh Nguyễn Gia T1 một số tiền và chưa có khả năng trả nợ. Do lúc này, bản chính chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497 đang được V1 giữ để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của A và chị T với V1 nên khoảng cuối tháng 4/2020 đến đầu tháng 5/2020, A nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497. Thực hiện ý định trên, A sử dụng điện thoại cá nhân gọi điện vào số điện thoại đã nhắn tin giới thiệu làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nói trên, trao đổi với đối tượng này về việc muốn làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Đối tượng này đồng ý làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả với giá là 4.000.000 đồng và gửi cho A một số điện thoại (hiện chưa xác định) để A gửi ảnh chụp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cần làm giả cho đối tượng. A đồng ý và sử dụng điện thoại cá nhân chụp ảnh bản photo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497 được V1 cấp, khi giữ bản chính giấy chứng nhận này, rồi gửi ảnh vừa chụp được vào tài khoản Zalo của đối tượng nói trên. Khoảng 01 tuần sau, có một đối tượng (hiện chưa xác định) gọi điện vào số
điện thoại của A và giao cho A giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 704497, của xe ô tô BKS: 30G-290.37, mang tên chị Ma Thị Xuân T. A đã nhận giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nói trên và trả cho đối tượng này số tiền 4.000.000 đồng tiền mặt theo thỏa thuận trước đó. Sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 704497, A trao đổi với anh T1: A chưa có tiền trả nợ cho anh T1 nên sẽ ký hợp đồng bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho T1. Anh T1 đồng ý. Sau khi thỏa thuận với anh T1 như trên, A về nói với vợ là chị T cùng A đến Văn phòng C1 để ký hợp đồng bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 (tài sản chung của hai vợ chồng) với mục đích để A thu thập tài liệu, thông tin về hoạt động Công chứng của Văn phòng C1, phục vụ cho công tác phóng viên của A. Do tin tưởng chồng là phóng viên đang cần thu thập thông tin, tài liệu và không biết A đã làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 704497, với mục đích để công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô với anh T1 nên chị T đồng ý giúp đỡ chồng hoàn thành công việc. Sau đó, A hẹn anh T1 đến sáng ngày 22/5/2020, đến Văn phòng C1 để A ký hợp đồng bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1. Buổi sáng ngày 22/5/2020, A, chị T cùng anh T1 đến Văn phòng C1, địa chỉ tại B khu Đ, xã T, huyện T, Hà Nội để ký hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37. Tại đây, A và chị T đề nghị Văn phòng C1 công chứng hợp đồng bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1 với giá là 800.000.000 đồng. Chị Đặng Thị Thu H2 - Công chứng viên Văn phòng C1 yêu cầu A, chị T và anh T1 xuất trình bản chính Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của A và chị T, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm kiểm định của xe ô tô BKS: 30G-290.37. A và chị T đã xuất trình Chứng minh nhân dân mang tên chị T, căn cước công dân mang tên A, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn; anh T1 đã xuất trình chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu mang tên anh T1; riêng A còn xuất trình giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 704497 cho chị H2 để kiểm tra đối chiếu trước khi ký kết hợp đồng bán xe ô tô BKS: 30G-290.37. Chị H2 đã kiểm tra tất cả các giấy tờ do A, chị T và anh T1 cung cấp nói trên nhưng không thể phát hiện được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30G-290.37 do A xuất trình là giả, đồng thời chị H2 cũng tra cứu thông tin các từ khóa “30G-290.37”, “Ma Thị Xuân Thu”, “Nguyễn Tiến A” trên hệ thống UCHI và xác định xe ô tô BKS: 30G-290.37 và bên bán (A và chị T) không có thông tin ngăn chặn trên hệ thống UCHI nên chị Hòa đồng Ý công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô theo yêu cầu của A, chị T và anh T1. Sau khi soạn thảo hợp đồng mua bán xe ô tô theo yêu cầu và thỏa thuận của các bên, chị H2 giải thích toàn bộ nội dung hợp đồng đã soạn thảo và cho A, chị T, anh Tân Đ lại hợp đồng. A, chị T và anh T1 đã đọc lại hợp đồng, thống nhất với toàn bộ nội dung hợp đồng do Công chứng viên soạn thảo theo yêu cầu của các bên và ký hợp đồng mua bán xe ô tô (số công chứng 2046/2020, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD), nội dung Hợp đồng thể hiện: A và chị T tự nguyện bán xe ô
tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1 với giá 800.000.000 đồng. Trong suốt quá trình thỏa thuận bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1 đến khi hoàn tất việc ký hợp đồng, A không nói cho chị T, anh T1 và Văn phòng C1, cũng như bất kỳ ai khác biết việc A làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30G-290.37 để ký hợp đồng mua bán xe ô tô. Khi ký hợp đồng mua bán xe ô tô, A và chị T đều không nói xe ô tô BKS: 30G-290.37 đang được thế chấp tại V1.
Khoảng 01 tuần sau khi ký hợp đồng bán xe ô tô như đã nêu trên, chị T không thấy A mang xe ô tô về nên đã hỏi A về sự việc trên. A nói với chị T: “xe ô tô đã bị anh Tân giữ, do A đang nợ anh T1 số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày; A đã nhiều lần trao đổi với anh T1 để lấy lại xe ô tô nhưng anh T1 yêu cầu A phải trả tiền nợ gốc và lãi là 800.000.000 đồng thì sẽ trả lại xe ô tô cho A”. Chị T nhiều lần yêu cầu A gặp anh T1 lấy lại xe ô tô nhưng không thấy A mang xe ô tô về nên ngày 29/01/2021, chị T đã gửi đơn trình báo đến Sở tư pháp Hà Nội.
Ngày 08/02/2021, Sở tư pháp Thành phố Hà Nội đã chuyển đơn của chị T đến Công an Thành phố H. Ngày 19/02/2021, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H đã chuyển đơn của chị T đến Cơ quan CSĐT huyện T để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tiến hành triệu tập Nguyễn Tiến A, cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đến trụ sở để làm rõ nội dung vụ việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến A khai nhận toàn bộ hành vi làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 30G-290.37 và hành vi bán xe ô tô cho anh T1 như đã nêu trên. A khai: Việc A làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, A không nói cho chị T, anh T1 cũng như Văn phòng Công chứng biết. Mục đích ký hợp đồng mua bán xe cho anh T1 ngoài việc để trừ nợ thì A còn thông qua việc ký hợp đồng mua bán xe ô tô để thu thập thông tin sai phạm trong nghiệp vụ công chứng của Văn phòng C1 để viết báo. Khoảng 01 tuần sau khi ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô, A cho anh T1 mượn xe ô tô BKS: 30G-290.37 để đi chơi nhưng sau đó, anh T1 không trả lại xe ô tô cho A mà yêu cầu A phải trả nợ thì sẽ trả lại xe ô tô. Ngày 09/3/2021, A báo cáo với Tổng biên tập B2 xin giấy giới thiệu để làm việc với Văn phòng C2 Ngày 10/3/2021, A cùng với bạn là anh Ngô Đăng H3 đến Văn phòng C1 làm việc. Tại đây, A đã ghi âm, ghi hình lại nội dung trao đổi giữa A với đại diện Văn phòng C1 liên quan đến hoạt động Công chứng. Ngày 08/7/2021, A tự nguyện giao nộp 01 USB màu đỏ đen, nhãn hiệu Sandisk, bên trong USB có chứa dữ liệu ghi âm, ghi hình buổi làm việc giữa A và đại diện Văn phòng C2
Anh Nguyễn Gia T1 khai: Ngày 20/5/2020, Nguyễn Tiến A vay của anh T1 số tiền 500.000.000 đồng và tự nguyện giao chiếc xe ô tô BKS: 30G - 290.37, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1 để làm tin. Buổi tối cùng ngày, A tiếp tục vay của anh T1 số tiền 300.000.000 đồng. Do có quan hệ
quen biết nên anh T1 cho A vay tiền mà không lấy tiền lãi suất, không lập hợp đồng vay nợ. A hẹn ngày 21/5/2020 sẽ trả lại tiền đã vay cho anh T1. Đến chiều ngày 21/5/2020, A đề nghị bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh T1 để thay thế cho nghĩa vụ trả nợ do A không có khả năng trả nợ. Anh T1 đồng ý. Ngày 22/5/2020, anh T1, A và chị T đã ký hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 như đã nêu trên. Trong suốt quá trình nói trên, A không nói cho anh T1 biết chiếc xe ô tô BKS: 30G-290.37 đang được thế chấp tại V1, cũng như việc A đã làm giả và sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30G-290.37 để ký hợp đồng mua bán và giao cho anh T1. Anh T1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497 của xe ô tô BKS: 30G-290.37, mang tên chủ sở hữu là chị Ma Thị Xuân T; 01 chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KD1666274 do Cục Đ1 cấp cho xe ô tô BKS: 30G-290.37, có hiệu lực đến ngày 26/9/2022.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với dữ liệu USB do Nguyễn Tiến A giao nộp; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định do anh Nguyễn Gia T1 giao nộp.
Tại bản kết luận giám định số 4800/KLGĐ-PC09-Đ3 ngày 16/6/2021 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:
- Chứng nhận đăng ký xe ô tô gửi giám định là chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, được tạo ra bằng phương pháp in màu kỹ thuật số.
- Giấy chứng nhận kiểm định gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết tẩy xóa, sửa chữa, điền thêm. Hình dấu, chữ ký hiện Phòng K1 - Công an thành phố H không có mẫu lưu nên không thể tiến hành giám định.
Tại bản kết luận giám định số 6576/C09-P6 ngày 07/10/2021 của V2 - Bộ C3 kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video mẫu cần giám định.”
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã có văn bản đề nghị B2, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, Văn phòng C4 thông tin, tài liệu và phối hợp giải quyết vụ việc.
Ngày 13/8/2021 B2 có công văn phúc đáp với nội dung như sau:
- Nguyễn Tiến A (Sinh năm: 1978; HKTT: phường M, quận H, thành phố Hà Nội; thẻ Nhà báo số 003760, cấp ngày 01/01/2021) hiện đang là phóng viên truyền thông thuộc Ban Trị sự Báo Công lý, chuyên môn chính của A là viết bài, làm công tác truyền thông cho Báo.
- Việc thu thập thông tin viết bài về Văn phòng C5 phóng viên tự phát hiện đề tài và báo cáo qua điện thoại cho B1 Trị sự để Ban Trị sự báo cáo Tổng Biên tập. B2 không có quyết định phân công, giao chuyên đề điều tra thu thập thông tin về vi phạm của các Văn phòng C6 và Văn phòng C1 nói riêng cho Nguyễn Tiến A.
- Ngày 09/3/2021, B2 cấp giấy giới thiệu cho A để làm việc với Văn phòng C2 Theo quy định của Báo Công lý chỉ có phóng viên có tên trong giấy giới thiệu mới được làm việc để thu thập thông tin. Người không có tên trong giấy giới thiệu đi cùng là vi phạm.
- Khi hết hạn Giấy giới thiệu A không có bài viết và đã nộp lại Tòa soạn Giấy giới thiệu hết hạn.
- Đến thời điểm này A không có bài viết về hoạt động của các Văn phòng Công chứng nói chung và Văn phòng C1 nói riêng.
- Việc Nguyễn Tiến A đặt làm chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để ký kết Hợp đồng mua bán xe ô tô cá nhân B2 không được biết.
- B2 cũng như các Cơ quan Báo chí khác không cho phép phóng viên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (cụ thể: làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức) để thực hiện chuyên đề điều tra thu thập thông tin viết bài.
Ngày 09/8/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh Sở giao dịch có văn bản phúc đáp với nội dung như sau: “Bà Ma Thị Xuân T và chồng là ông Nguyễn Tiến A thực hiện chi trả tiền gốc và lãi vào ngày 19 hàng tháng, chuyển khoản vào số tài khoản 209501627-Ma Thị Xuân Thu -V1 RR1(theo HĐ cho vay kiêm HĐ thế chấp xe ô tô đã cung cấp cho Cơ quan điều tra - Công an huyện T). Tài sản xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5, BKS: 30G-290.37 không được phép bán khi đang là tài sản thế chấp tại Ngân hàng. Kể từ ngày phát sinh khoản vay thế chấp bằng tài sản là xe ô tô Mazda CX5, BKS: 30G-290.37, hàng tháng khách hàng Ma Thị Xuân T và Nguyễn Tiến A thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết của hợp đồng, do khách hàng chưa vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng chưa có yêu cầu đề nghị gì đối với khách hàng.”
Ngày 22/10/2021, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội có văn bản phúc đáp với nội dung như sau:
- Văn phòng C1 được thành lập theo Quyết định số 1448/QĐ-UBND ngày 27/02/2017 của UBND thành phố H; địa chỉ: B khu Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Công chứng viên Lê Thị X. Công chứng viên Đặng Thị Thu H2 được bổ nhiệm công chứng viên theo Quyết định số 292/QĐ-BTP ngày 09/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, hiện đang là công chứng viên hợp danh của Văn phòng.
- Hệ thống UCHI được UBND thành phố H chỉ đạo xây dựng, đang trong quá trình thử nghiệm và chưa ban hành quy chế về việc vận hành, khai thác, sử dụng; thông tin trên hệ thống chỉ mang tính chất tham khảo, hỗ trợ hoạt động hành nghề của công chứng viên do Sở tư pháp quản lý. Hệ thống UCHI chưa được kết nối, liên kết với các hệ thống thông tin khác. Hiện nay, chưa có quy định pháp luật nào bắt buộc các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên khi hành nghề phải tra cứu thông tin trên UCHI trước khi công chứng các hợp đồng, giao dịch. Tuy
nhiên, Sở tư pháp vẫn khuyến nghị các tổ chức hành nghề công chứng trước khi ký công chứng hợp đồng cần tra cứu thông tin trên UCHI để đảm bảo an toàn cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch dân sự và hạn chế rủi ro cho các công chứng viên khi ký công chứng hợp đồng, giao dịch.
Ngày 19/5/2021, Văn phòng C1 đã cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 (tài liệu bản sao và bản photo), đồng thời có văn bản phúc đáp với nội dung như sau: “Việc công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37, số công chứng 2046/2020, quyển số 05TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 22/5/2020 đã thực hiện đúng quy trình, quy định của pháp luật công chứng và được phản ánh đầy đủ tại hồ sơ công chứng. Hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37 trên đây do Công chứng viên Đặng Thị Thu H2 - Công chứng viên Văn phòng C1 chứng nhận.”
Đối với các đối tượng liên quan đến việc A thuê làm giả chứng nhận đăng ký xe ô tô, do A khai không rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại, đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không có cơ sở xác minh làm rõ.
Đối với chị Ma Thị Xuân T, qua điều tra xác định: Chị T không biết A làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và việc cùng A ký hợp đồng bán xe ô tô cho anh T1 là do tin tưởng Nguyễn Tiến A đang cần thu thập thông tin, tài liệu để viết bài đăng báo nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không xử lý.
Đối với chị Đặng Thị Thu H2 công chứng viên Văn phòng C1, qua điều tra xác định: chị H2 ký công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô như đã nêu trên là đúng quy định, không có dấu hiệu phạm tội nên không xử lý..
Đối với việc A tố giác anh Nguyễn Gia T1 có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, với số tiền 300.000.000 đồng. Anh T1 khai cho A vay tổng số tiền là 800.000.000 đồng, không lấy tiền lãi của A. Anh T1 và A đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh lời khai về nội dung trên. Do chưa đủ căn cứ kết luận anh T1 có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hay không nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tách phần hồ sơ tài liệu liên quan đối với nội dung này, để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Đối với chiếc xe ô tô Mazda CX5 BKS: 30G - 290.37, Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu và xác định không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. A và chị T đề nghị anh T1 trả lại chiếc xe ô tô trên và sẽ có trách nhiệm hoàn trả số tiền 300.000.000 đồng mà A đã vay của anh T1. Anh T1 cam kết sẽ trả lại xe ô tô cho A và chị T, khi A trả lại số tiền 800.000.000 đồng mà A đã vay trước đó.
Ngày 05/7/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến A về hành vi Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật Hình sự.
Ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì ban hành cáo trạng số 207/CT-VKS-TT truy tố Nguyễn Tiến A vê tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật Hình sự.
Ngày 11/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã xét xử sơ thẩm, ban hành bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST, tuyên phạt Nguyễn Tiến A 15 tháng tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H điều tra, làm rõ hành vi của Nguyễn Tiến A có đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" hay không. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đề nghị tiếp tục điều tra, truy tố.
Ngày 02/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 18/QĐ-VC1-HS, với nội dung: "Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến A khai nhận chỉ ký kết hợp đồng mua bán xe với anh T1 để làm tin, đảm bảo cho các khoản vay của anh T1. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Tiến A khai nhận vay của anh T1 số tiền 300.000.000 đồng và nói với anh T1 là sẽ bán xe cho anh T1 để trừ nợ, phù hợp với lời khai của anh T1 về việc trước đó A có nợ anh T1 một khoản tiền và thỏa thuận với anh T1 bán xe để trừ nợ; phù hợp với lời khai của người làm chứng Đặng Thị Thu H2 (công chứng viên) về việc tại thời điểm công chứng, bên mua và bên bán đều thống nhất việc mua bán xe, không phát sinh ý kiến hay có mục đích khác ngoài mục đích mua bán xe. Mặc dù, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ không xác định được chính xác số tiền nợ là bao nhiêu nhưng A và anh T1 đều thừa nhận giữa hai bên có vay nợ, khoản nợ là có thật. Cho dù không có việc giao nhận tiền bán xe ô tô tại thời điểm ký kết hợp đồng, nhưng thực tế A đã nhận được tiền tương đương giá trị chuyển nhượng xe do các bên thỏa thuận tại thời điểm A vay nợ. Do vậy, hành vi của Nguyễn Tiến A có dấu hiệu phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Việc cấp sơ thẩm không điều tra, truy tố, xét xử Nguyễn Tiến A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bỏ lọt hành vi phạm tội. Vì các lẽ trên Quyết định: 1. Kháng nghị Bản ản hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. 2. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội để điều tra lại theo quy định của pháp luật."
Ngày 22/8/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định số 25/2023/HS-GĐT hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến A, hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 862/2022, HSPT-QĐ ngày 22/9/2022 của TAND TP Hà Nội để điều tra lại theo quy định của pháp luật, lý do: Trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm đã thể hiện ngoài hành vi làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô, bị cáo Nguyễn Tiến A còn có hành vi gian dối sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô giả để thực hiện
việc bán xe ôtô cho anh Nguyễn Gia T1 với số tiền 800.000.000 đồng. Thời điểm Nguyễn Tiến A thực hiện việc mua bán xe ôtô, chiếc xe đang được thế chấp tại ngân hàng V1. Anh Nguyễn Gia T1 không biết chiếc xe ôtô trên đang được Nguyễn Tiến A thế chấp tại ngân hàng và cũng không biết giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô là giả nên tin tưởng giao dịch mua xe với Nguyễn Tiến A. Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến A khai nhận chỉ ký kết hợp đồng mua bán xe ôtô với anh Nguyễn Gia T1 để làm tin, đảm bảo cho các khoản vay của anh Nguyễn Gia T1. Tuy nhiên tại phiên lòa sơ thầm, Nguyễn Tiến A khai nhận vay của anh Nguyễn Gia T1 số tiền 300.000.000 đồng và nói với anh Nguyễn Gia T1 là sẽ bán xe cho anh Nguyễn Gia T1 để trừ nợ, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Gia T1 về việc trước đó Nguyễn Tiến A có nợ anh Nguyễn Gia T1 một khoản tiền và thoa thuận với anh Nguyễn Gia T1 bán xe để trừ nợ; phù hợp với lời khai của người làm chứng Đặng Thị Thu H2 (Công chứng viên) về việc tại thời điểm công chứng, bên mua và bên bán xe đều thống nhất việc mua bán xe, không phát sinh ý kiến hay có mục đích khác ngoài mục đích mua bán xe. Mặc dù tài liệu, chứng cứ tronh hồ sơ không xác định được chính xác số tiền nợ là bao nhiêu nhưng Nguyễn Tiến A và anh Nguyễn Gia T1 đều thừa nhận giữa hai bên có vay nợ, khoản nợ là có thật. Do đó, cho dù việc mua bán xe giữa Nguyễn Tiến A và anh Nguyễn Gia T1 không có việc bàn giao tiền tại thời điểm ký hợp đồng nhưng thực chất Nguyễn Tiến A đã nhận được tiền tương ứng với giá trị chuyển nhượng xe do các bên thỏa thuận tại thời điểm Nguyễn Tiến A vay nợ nên đủ cơ sở xác định Nguyễn Tiến A có hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Gia T1. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Tiến A có dấu hiệu phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điều 174 BLHS. ... Việc cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không điều tra, truy tố Nguyễn Tiến A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội.
Ngày 27/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã có Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra lại. Ngày 30/10/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã nhận được Quyết định và hồ sơ vụ án.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến A giữ nguyên lời khai như trong giai đoạn điều tra, truy tố ở giai đoạn sơ thẩm. A khai: Tại phiên tòa ngày 11/3/2021, A không khai nội dung ký hợp đồng mua bán xe ô tô đối với Nguyễn Gia T1 đề trừ nợ cho khoản vay của A và T1. A chỉ vay của T1 số tiền 300.000.000 đồng nên việc A ký hợp đồng mua bán xe ôtô với T1 để trừ nợ là không hợp lý
Ngày 06/11/2023, Nguyễn Tiến A cung cấp thông tin: A đã ghi âm cuộc gọi T1 gọi cho A để yêu cầu A trả tiền lãi suất cho khoản vay trên. Hiện đoạn ghi âm được lưu trong điện thoại di động của A do anh trai A là anh Nguyễn Trọng B giữ.
Ngày 15/11/2023, anh Nguyễn Trọng B (Sinh năm: 1977; HKTT: Khu B V, T, Phú Thọ) làm việc, cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc thẻ nhớ, trong có lưu 02 đoạn ghi âm ngày 06/06/2020 và ngày 22/06/2020, trong đó có nội dung trao đổi (A và anh T1) về việc yêu cầu trả tiền lãi, tuy nhiên không nội dung hội thoại không rõ mức lãi suất.
Ngày 01/4/2024, anh Nguyễn Trọng B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu xanh, đã qua sử dụng. Anh B trình bày là điện thoại Nguyễn Tiến A sử dụng trước khi bị bắt, trong có 02 đoạn ghi âm cuộc gọi với anh Nguyễn Gia T1 mà trước đó anh B đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiến hành làm việc với anh Nguyễn Gia T1, anh T1 xác nhận giọng nói của người đàn ông yêu cầu trả lãi trong 02 đoạn ghi âm là giọng nói của anh T1, do ngày 21/5/2020, A tự hứa hẹn sẽ trả tiền đã vay của tân cùng tiền lãi suất theo lãi suất ngân hàng nên T1 gọi điện cho A để hỏi về khoản tiền lãi trên.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã thu mẫu giám định giọng nói của Nguyễn Tiến A và anh Nguyễn Gia T1 và trưng cầu giám định với file ghi âm do anh Nguyễn Trọng B cung cấp.
Tại Bản Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của V2 - Bộ C3, kết luận:
- "- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp ghi âm gửi giám định.
- Tiếng nói của người đàn ông trong các tệp tin ghi âm mẫu cần giám định (ký hiệu "An" trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói mẫu so sánh của Nguyễn Tiến A là cùng một người.
- Tiếng nói của người đàn ông trong các tệp tin ghi âm mẫu cần giám định (ký hiệu "Tân" trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói mẫu so sánh của Nguyễn Gia T1 là cùng một người.
- Nội dung các đoạn hội thoại trong các mẫu gửi giám định đã được chuyển thành văn bản”.
Anh Nguyễn Gia T1 khai: Khoảng cuối năm 2019, thông qua các mối quan hệ xã hội, T1 quen biết A, được A cho biết A là nhà báo của báo Công L, thỉnh thoảng A có đến nhà anh T1 chơi và vay của T1 số tiền 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, sau vài ngày sẽ trả tiền đúng hẹn. Do tin tưởng các lần A vay tiền của anh T1, anh T1 đều không yêu cầu viết giấy tờ vay mượn, không có ai làm chứng và không lấy lãi suất. Chiều ngày 20/5/2020, A đến nhà anh T1 tại xóm Á, xã T, huyện T, Hà Nội để hỏi vay của anh T1 số tiền 500.000.000 đồng, hẹn chiều ngày 21/5/2020 sẽ trả số tiền 500.000.000 đồng cho T1. Tại nhà, anh T1 đưa cho A số tiền 500.000.000 đồng bằng tiền mặt không viết giấy tờ giao nhận, không có ai làm chứng, không lấy lãi suất. Đến khoảng 20 giờ tối cùng ngày, A tiếp tục đến
nhà anh T1 hỏi vay thêm số tiền 300.000.000 đồng, anh T1 đưa cho A số tiền 300.000.000 đồng bằng tiền mặt không viết giấy tờ giao nhận, không có người làm chứng, không lấy lãi suất, hẹn chiều ngày 21/5/2020 sẽ trả số tiền 800.000.000 đồng cho anh T1. Chiều ngày 21/5/2020, A không trả tiền cho anh T1 như đã hứa hẹn, anh T1 gọi điện cho A, A nói hiện chưa có tiền để trả cho anh T1, A xin khất và hẹn sẽ trả anh T1 số tiền trên theo lãi suất ngân hàng nên anh T1 đồng ý (việc thoả thuận trên giữa T1 và A không có người làm chứng). Sau đó, A nhờ anh T1 cùng A đến Văn phòng công chứng để làm hợp đồng mua bán chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda CXS BKS: 30G-290.37 để phục vụ công việc của A (T1 không biết phục vụ công việc gì vì A không nói rõ). Anh Tân nghĩ ký hợp đồng trên cũng coi như để anh Tân giữ làm tin cho khoản vay giữa anh T1 và A, nên anh T1 đồng ý với A. A và anh T1 thống nhất về việc ký hợp đồng trên không có việc mua bán xe ôtô BKS: 30G-290.37 trên thực tế, A sẽ trả lại số tiền 800.000.000 đồng đã vay của anh T1 cùng tiền lãi suất cho T1 theo lãi suất ngân hàng, khi đó anh T1 và A sẽ ra văn phòng công chứng để hủy hợp đồng mua bản xe ôtô nêu trên. Sáng ngày 22/5/2020, vợ chồng A cùng T1 đến văn phòng C1 ở xã T, huyện T, Hà Nội. Tại văn phòng công chứng, A đã đưa cho công chứng viên giấy tờ xe ôtô và giấy tờ cá nhân của vợ chồng A; anh T1 đưa cho công chứng viên giấy tờ tùy thân của anh T1. Anh T1 là người thông báo với công chứng viên về số tiền ghi trên hợp đồng mua bán xe ô tô là 800.000.000 đồng là số tiền A đã vay anh T1 do không phải mua bán xe trên thực tế nên anh T1 không khai giảm số tiền trên hợp đồng mua bán. Sau đó một thời gian (anh T1 không nhớ cụ thế), anh T1 có công việc cần giải quyết nên đã mượn A xe ô tô BKS: 30G-290.37 để sử dụng trong vài ngày. A đồng ý cho anh T1 mượn xe. Sau đó, A chưa có nhu cầu sử dụng xe nên chưa gặp anh T1 để lấy xe, đồng thời anh T1 nhiều lần yêu cầu A trả tiền cho T1, nhưng A không trả được, nên anh T1 và A đã thống nhất tạm thời A vẫn để xe ôtô trên cho anh Tân giữ, khi A trả tiền cho anh T1 thì sẽ lấy lại xe. Khi anh T1 mượn xe ôtô của A để sử dụng, giấy tờ xe đã để sẵn trên ôtô (gồm đăng kiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 704497 ngày 26/3/2020 và bảo hiểm xe). Anh T1 chỉ sử dụng xe để đi 01 lần giải quyết công việc nên cũng không sử dụng đến giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô trên. Khoảng cuối tháng 6/2020, anh Nguyễn Đức T2 cho biết anh T2 tình cờ ngồi uống bia cùng quán bia với A và nghe thấy A nói đã làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nêu trên nên nói lại với anh T1. Anh T1 gọi điện cho A để hỏi thì A cũng công nhận giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô trên là giả và bảo An vẫn trả tiền đã vay cho anh T1 và lấy xe về, việc làm giá chứng nhận đăng ký xe ôtô để phục vụ công việc của A, anh T1 không liên quan đến giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả trên. Sau đó, anh T1 không biết lý do tại sao vợ chồng A lại gửi đơn tố giác anh T1. Anh T1 hỏi A thì A nói vợ A không biết việc vay mượn tiền giữa anh T1 và A, muốn lấy lại xe ôtô trên. A vẫn chưa có tiền để trả cho anh T1 như thỏa thuận nên khi cơ quan điều tra triệu tập T1 lên làm việc, T1 đã giao nộp và trình bày về chứng nhận đăng ký xe ôtô giả nêu trên. Do mâu thuẫn về việc A
đã vay tiền của T1 không trả được còn gửi đơn tố giác anh T1 nên anh T1 đã khai với cơ quan điều tra nội dung trước đó để yêu cầu A trả tiền cho T1.
Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Tiến A và Nguyễn Gia T1, tuy nhiên T1 và A giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra..
Anh Triệu Khắc T3 (SN: 1973, HKTT: Tân Triều, T, Hà Nội; là chủ bãi xe nơi Nguyễn Gia T1 gửi chiếc xe ôtô BKS: 30G-290.37), khai: Anh T3 không nhớ anh T1 gửi xe ôtô BKS: 30G-290.37 từ thời gian nào vì khi anh T1 gửi, anh T3 không có mặt tại bãi xe, anh Tân T4 đưa xe vào trong bãi sau đó gọi điện thông báo cho anh T3, anh T3 không biết khi đó ai là người đi xe ôtô vào trong bãi. Trong sổ cá nhân do anh T3 tự ghi chép, theo dõi thể hiện Nguyễn Gia T1 có 02 xe ôtô gửi tại bãi xe của anh T3 (không ghi rõ BKS), anh T3 có ghi ngày 29/01/2021 và ngày 10/3/2021 thường là nội dung anh T3 ghi ngày xe gửi vào bãi. Do anh T1 là hàng xóm của anh T3 nên anh T1 trả tiền gửi xe cho anh T3 01 năm/01 lần, anh T1 trả tiền cho anh T3 được 02 lần.
Công ty TNHH M cung cấp: Ngày 30/6/2023, Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH M đã ký Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/06/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023, theo đó, V1 đồng ý bán và công ty M đồng ý mua (các) khoản nợ của các khách hàng vay là bà Ma Thị Xuân T và Nguyễn Tiến A. Giá trị của (các) khoản nợ bao gồm toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh cho đến ngày có hiệu lực của Hợp đồng mua bán nợ. Ngày 06/02/2024, anh trai của Nguyễn Tiến A là Nguyễn Trọng B đã thực hiện việc nộp tiền giải chấp đối với tài sản đảm bảo cho khoản vay của bà Ma Thị Xuân T là: 01 xe ôtô nhãn hiệu Mazda CX5, BKS: 30G-290.37, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C7 công an thành phố H cấp ngày 26/3/2020 thuộc quyên sở hữu/sử dụng của Ma Thị Xuân T và chồng là Nguyên Tiến A1 thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp xe ôtô số LN2003232284619 ngày 27/3/2020. Công ty TNHH M có thông báo giải chấp tài sản thế chấp số 197/2024/TB-GLXDTVPN ngày 06/02/2024 của Công ty TNHH M. Công ty TNHH M không còn yêu cầu, đề nghị gì khác.
Xác minh tại Chi cục thuế huyện T: Từ ngày 22/5/2020, sau khi Nguyễn Tiến A và Nguyễn Gia T1 ký hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 30G-290.37, Nguyễn Gia T1 không làm thủ tục kê khai nộp thuế trước bạ, không làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên đối với xe ô tô BKS: 30G-290.37 nêu trên.
Ngày 24/12/2023, anh trai của Nguyễn Tiến A là Nguyễn Trọng B đã tự nguyện thay Nguyễn Tiến A trả cho anh Nguyễn Gia T1 số tiến 400.000.000 đồng, sau khi thỏa thuận giao nhận tiền, anh T1 không còn yêu cầu đề nghị gì đối với A. Anh T1 đã tự trả lại chiếc xe ô tô BKS: 30G-290.37 do anh T1 quản lý cho anh B để giải quyết khoản vay với ngân hàng V1. Anh Nguyễn Trọng B cung cấp: Ngày 06/02/2024, đã thực hiện xong nghĩa vụ được đảm bảo bởi tài sản đảm bảo là chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda CX5, BKS: 30G-290.37 theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp
đồng thế chấp xe ôtô số LN2003232284619 ký ngày 27/3/2020 giữa V1 với Ma Thị Xuân T và Nguyễn Tiến A, có thông báo giải chấp tài sản thế chấp số 197/2024/TB-GLXDTVPN ngày 06/02/2024 của Công ty TNHH M.
Quá trình điều tra lại xác định: Việc ký hợp đồng mua bán xe ôtô BKS: 30G-290.37 giữa Nguyễn Tiến A và anh Nguyễn Gia T1 là hợp đồng giả cách, thực tế sau khi ký hợp đồng mua bán xe giữa A và anh T1 không có việc giao xe, giao tiền. Trước khi ký hợp đồng mua bản xe, giữa A và anh T1 đã trao đổi, thống nhất với nhau là hợp đồng mua bán xe chi đề đảm bảo cho khoản vay trước đó A vay của anh T1 và để phục vụ cho công việc viết báo của A. Ngoài lời khai của A và anh T1, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh số tiền A vay của anh T1 cụ thể là bao nhiêu, thời điểm vay, lãi suất vay, không có người chứng kiến, không có tài sản đảm bảo. Chiếc xe ôtô BKS: 30G-290.37 là tài sản hợp pháp của vợ chồng A và chị Ma Thị Xuân T. Sau khi ký hợp đồng mua bán xe ô tô với Nguyễn Gia T1 vào ngày 22/5/2020, A và chị T vẫn tiếp tục nộp tiền lãi đối với khoản vay tại ngân hàng V1 theo quy định cho đến ngày 05/5/2022 A bị Công an T bắt tạm giam về hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" nên không thể tiếp tục trả lãi suất cho ngân hàng. Trong quá trình điều tra lại, gia đình bị can A đã khắc phục triệt để thiệt hại đã xảy ra, cụ thể: Ngày 24/12/2023, anh Nguyễn Trọng B đã tự nguyện thay Nguyễn Tiến A trả cho Nguyễn Gia T1 số tiền 400.000.000 đồng, sau khi thỏa thuận giao nhận tiền, anh T1 không còn yêu cầu đề nghị gì đối với A, đồng thời anh T1 đã tự trả lại chiếc xe ô tô BKS: 30G-290.37 cho anh Nguyễn Trọng B để thay A giải quyết khoản vay với ngân hàng V1. Ngày 06/02/2024, anh Nguyễn Trọng B (anh trai A) đã nộp tiền giải chấp xe ô tô nhãn hiệu Mazda CXS BKS: 30G-290.37 và Giấy chứng nhận đăng ký xe đối với hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ôtô số LN2003232284619 ngày 27/3/2020, xe ô tô và Giấy chứng nhận đăng ký xe đã bàn giao cho anh B, Công ty TNHH M không có yêu cầu đề nghị nào khác. Do đó, không đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Tiến A về hành vi "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 13/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Tiến A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu xanh, đã qua sử dụng do anh Nguyễn Trọng B giao nộp là chứng cứ của vụ án cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 213/CT-VKS-TT ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Tiến A về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C1, anh Nguyễn Gia T1 và anh Nguyễn Trọng B vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời
khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Đỗ Thị H1 vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố bài bảo chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến A tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tiến A theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 341; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 điều 341 Bộ luật hình sự. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy note 10 màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng cuối tháng 4/2020, Nguyễn Tiến A đã gửi ảnh chụp bản photo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, cung cấp thông tin cho đối tượng hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch để làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 704497, của xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 - BKS: 30G - 290.37 là tài sản chung vợ chồng với mục đích để bán chiếc xe ô tô này cho anh Nguyễn Gia T1. Sau khi lấy được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 704497. Ngày 22/5/2020, tại Văn phòng C1, ở địa chỉ: B, khu Đ, thuộc xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tiến A đã sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả này xuất trình cho Văn phòng C1 để kiểm tra và dùng để ký hợp đồng công chứng mua bán xe ô tô với anh Nguyễn Gia T1.
Hành vi của Nguyễn Tiến A đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật hình sự.
- Đối với hành vi sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để thực hiện hành vi bán xe cho anh T1 với số tiền 800.000.000 đồng. Thời điểm A thực hiện việc mua bán xe ô tô, chiếc xe ô tô Mazda CX5, BKS: 30G-290.37 đang được thế chấp
tại V1. Anh T1 không biết chiếc xe ô tô A đang thế chấp và cũng không biết giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô là giả nên đã tin tưởng giao dịch mua xe của A. Đối với chị Ma Thị Xuân T là vợ của A là người đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, là đồng sở hữu chiếc xe ô tô Mazda CX5, BKS: 30G-290.37. Khi A thực hiện giao dịch bán xe ô tô cho anh T1, A không nói là để trừ nợ mà chỉ nói là để thu thập tài liệu điều tra viết bài. Tại thời điểm A ký hợp đồng mua bán xe ô tô, A không được B2 phân công, giao chuyên đề điều tra thu thập thông tin về sai phạm của các Văn phòng công chứng nói chung và Văn phòng C1 nói riêng. Đến tháng 3/2021 tức là sau thời điểm ký hợp đồng mua bán xe ô tô 10 tháng, B2 mới có Giấy giới thiệu để A làm việc với Văn phòng C2 Do vậy, hành vi dùng giấy tờ giả để bán xe ô tô của A đã có yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Sau quá trình điều tra bổ sung ngày 13/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện T, thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 3810/QĐ-CQCSĐT ngày 13/9/2024 với lý do chưa đủ căn cứ xác định hành vi của Nguyễn Tiến A cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo An sinh năm 1978, trình độ văn hóa 12/12. Bị cáo là phóng viên của Báo Công lý thuộc Tòa án nhân dân Tối cao. Do vậy, bị cáo có đầy đủ nhận thức và năng lực để biết việc làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, sau đó dùng giấy chứng nhận đăng ký giả để bán ô tô cho anh T1. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan, tổ chức. Về nhân, bị cáo có 01 tiền án năm 2006, tuy đã được xóa án nhưng thể hiện nhân thân xấu. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 điều 51 mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Hiện bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù của bán án số 201/2023/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tại trại giam S1, huyện B, thành phố Hà Nội, không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy note 10 màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Án phí và quyền kháng cáo
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Từ các nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến A phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự; Áp dụng: Các Điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại bản án số 201/2023/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (Sáu) năm 09 (C) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy note 10 màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/11/2024.
- Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Tiến A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C1, anh Nguyễn Gia T1 và anh Nguyễn Trọng B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận bản án:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 241/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hình sự về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 241/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hình sự về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến A phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".
