|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 241/2024/DS-ST Ngày: 24/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Kim Thủy
- 2/ Ông Nguyễn Văn Soan
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thiên - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 792/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 (và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2024/QĐHPT-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024) giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A
Trụ sở: quận 1, TPHCM
Người đại diện theo ủy quyền: Tạ Thị Ngọc N, sinh năm 1985
Địa chỉ: quận Gò Vấp, TPHCM
2/ Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1998
Địa chỉ: TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Tạm trú: quận Gò Vấp, TPHCM
(Đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng A thì ngày 29/4/2022 ông Lê Quốc T có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gọi chung là hợp đồng tín dụng) theo hình thức cấp thẻ tín dụng Visa Card với hạn mức 81.000.000 đồng. Thời hạn 36 tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân, phương thức tín chấp. Số thẻ tín dụng L22048144321713. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Tiến liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, ngân hàng đã chấm dứt việc sử dụng thẻ đối với ông Tiến từ ngày 11/4/2023. Tính đến ngày 20/8/2023 dư nợ chưa thanh toán là: Nợ gốc 79.870.995 đồng + nợ lãi 17.864.203 đồng + nợ phí 25.097.922 đồng = 122.833.190 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Tiến thanh toán ngay dư nợ nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, và lãi phát sinh tính từ ngày 21/8/2023 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Bị đơn là ông Lê Quốc T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện nguyên đơn có nộp bảng tổng hợp sao kê tín dụng đến ngày 24/5/2024. Theo đó, dư nợ gốc chưa thanh toán đối với bị đơn là ông Lê Quốc T tính tới ngày 24/5/2024 là: Nợ gốc 79.870.995 đồng + Phí chậm thanh toán 42.813.256 đồng + phí vượt hạn mức 2.638.679 đồng + phí thường niên 990.000 đồng + lãi tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 24/5/2024 là 35.823.142 đồng = 162.136.072 đồng. Đề nghị bị đơn thanh toán số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; Đồng thời yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Bị đơn vắng mặt không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; Gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đúng quy định tại Điều 203, khoản 2 Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn có vay tiền của nguyên đơn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nên xác định giữa bị đơn và nguyên đơn có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản thông qua hình thức cấp tín dụng. Xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010.
Đối với bị đơn là ông Lê Quốc T, Tòa án đã yêu cầu Công an địa phương cung cấp tài liệu chứng cứ về tình trạng cư trú của bị đơn. Kết quả xác minh thể hiện: “Ông Lê Quốc T, sinh năm 1998 không thực tế cư trú tại địa chỉ ...quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ông Tiến ghi địa chỉ cư trú hiện tại là ...quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh và đại diện nguyên đơn xuất trình được Đơn xin xác nhận tạm trú ghi ngày 27/04/2022 của ông Lê Quốc T, phân xác nhận của Công an phường 8, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh có ghi: “Lê Quốc T, sinh ngày 26/6/1998 hiện đang cư ngụ tại ...quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 09/11/2020 đến nay là đúng”. Do đó, xác định đây là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại nơi cư trú cuối cùng là quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý đến khi xét xử nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đương sự không đến tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Tòa án cũng đã tiến hành đăng tin thông báo về vụ án đối với bị đơn trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự khai, Hợp đồng tín dụng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để khẳng định: Nguyên đơn có cấp tín dụng cho bị đơn vay tổng số tiền 81.000.000 đồng để tiêu dùng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính đến thời điểm xét xử dư nợ chưa thanh toán là: Nợ gốc 79.870.995 đồng + Phí chậm thanh toán 42.813.256 đồng + phí vượt hạn mức 2.638.679 đồng + phí thường niên 990.000 đồng + lãi tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 24/5/2024 là 35.823.142 đồng = 162.136.072 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; Và tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thi hành án xong.
Xét thấy, nội dung yêu cầu của nguyên đơn được các bên tự nguyện thỏa thuận tại các Điều 14, 15, 16 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng. Chủ thể ký kết nội dung và hình thức giao kết phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bên phải thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi, phí theo thỏa thuận giữa hai bên được ký kết trong hợp đồng tính từ thời điểm xét xử cho đến khi thi hành án xong. Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là ông Lê Quốc T.
Buộc ông Lê Quốc T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền 162.136.072 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, không trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó, nợ gốc 79.870.995 đồng + Phí chậm thanh toán 42.813.256 đồng + phí vượt hạn mức 2.638.679 đồng + phí thường niên 990.000 đồng + lãi tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 24/5/2024 là 35.823.142 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.106.803 đồng (tám triệu, một trăm lẻ sáu ngàn, tám trăm lẻ ba đồng).
Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng A là 3.070.830 đồng (ba triệu, không trăm bảy mươi ngàn, tám trăm ba mươi đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0013114 ngày 13/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tứ Nhị |
Bản án số 241/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 241/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là ông Lê Quốc T. Buộc ông Lê Quốc T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền 162.136.072 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, không trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó, nợ gốc 79.870.995 đồng + Phí chậm thanh toán 42.813.256 đồng + phí vượt hạn mức 2.638.679 đồng + phí thường niên 990.000 đồng + lãi tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 24/5/2024 là 35.823.142 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
