Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 241/2024/DS-PT

Ngày: 21 - 5 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mai;
Ông Phạm Đình Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 5203/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đồng Thị L sinh năm 1949, vắng mặt;

Trú tại: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L: Ông Nguyễn Đức N, Luật sư Công ty TNHH N2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

* Bị đơn: Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1962, có mặt;

Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông S, bà T: Ông Nguyễn Văn T1, Tư vấn viên Trung tâm T7, V và Pháp luật, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

Ông Nguyễn Lại H, sinh năm 1941 (đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:

  1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1940, vắng mặt;
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966, vắng mặt;

Cùng trú tại: Số E, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thành phố T;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn L1, chức vụ: Chủ tịch UBND;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Công Í, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, vắng mặt;

  1. Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1965, có mặt;

Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

  1. Bà Nguyễn Thị L2 (Nguyễn Ngọc T3), sinh năm 1950, vắng mặt;
  2. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1952, vắng mặt;
  3. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1950, vắng mặt;

Cùng trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T2, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn cũng như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Năm 1972, bà Đồng Thị L được cử về công tác tại trường Đại học Y, năm 1974 bà làm đơn xin đất và được UBND xã T, huyện Đ (nay là phường T, thành phố T) đồng ý cho sử dụng diện tích đất tại xóm Đ, xã T, huyện Đ (nay là tổ A, phường T, thành phố T), vợ chồng bà đã làm nhà ở trên diện tích đất đó. Năm 1984 trường Đại Học Y chuyển ra phường Đ, bà xin phần đất liền kề với thửa đất thổ cư đang ở để trồng hoa màu; năm 1989 khi Nhà nước đo đạc để làm bản đồ 299, các thửa đất của bà được thể hiện tại các thửa đất số 113, diện tích 2.390m² và thửa số 59, diện tích 2.410m², thuộc tờ bản đồ số 17, bản đồ 299. Năm 1993 bà kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên và đến năm 1994 được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là GCNQSD) đất đối với diện tích 4.800m² (gồm 2.390m² tại thửa 113 và diện tích 2.410m² tại thửa số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299).

Năm 1989, bà và ông Nguyễn Quý T5 ly hôn, khi ly hôn có thỏa thuận ông T5 được quyền sử dụng đối với thửa đất số 113, diện tích 2.390m², bà sử dụng thửa đất số 59, diện tích 2.410m². Đến năm 2002 bà làm thủ tục tách thửa đất số 113 cho ông T5.

Trong quá trình sử dụng đất, đến năm 1996 do hoàn cảnh gia đình và thuận tiện cho công tác nên bà đã chuyển ra ở tại tổ C, phường Q, thành phố T, không trực tiếp sử dụng diện tích đất tại thửa số 59 nêu trên, nhưng hàng năm bà vẫn

đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ. Đến năm 2002, khi bà quay lại thì phát hiện diện tích đất tại thửa số 59 của bà đã bị một số hộ dân quanh đó lấn chiếm, sử dụng. Trong đó, hộ ông Hoàng Văn S lấn chiếm của bà diện tích đất là 838,5m² đất tại thửa đất số 59 nêu trên (theo bản đồ địa chính lập năm 1995 thì diện tích đất hộ ông S lấn chiếm là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11).

Bà L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông S phải trả lại cho bà diện tích đất 838,5m2, diện tích đo đạc thực tế là 837,2m² tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299 cũ (nay là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11). Đối với các hộ dân khác có lấn chiếm đất của bà, bà không có yêu cầu đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Hoàng Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị T2 trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Lại H từ năm 1991, vợ chồng ông bà sử dụng liên tục cho đến nay. Quá trình sử dụng, năm 1993 vợ chồng ông bà có kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi đến UBND phường T nhưng không hiểu vì lý do gì hồ sơ bị thất lạc. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà L được UBND thành phố T cấp ngày 04/01/1994, có 02 thửa đất là thửa 113, diện tích 2.390m² và thửa 59, diện tích 2.410m², thuộc tờ bản đồ số 17, bản đồ 299. Thửa đất bà L khởi kiện tranh chấp với ông bà, theo bản đồ 299 là một phần của thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.410m²; theo bản đồ địa chính là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, diện tích 838,5m² (diện tích đo thực tế là 837,2m²). Ông bà cho rằng, việc bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên là không đúng, vì gia đình bà L không sử dụng bao giờ, bà L không ở đó từ khi bà L và ông T5 ly hôn, ngoài ra diện tích đất trên cấp cho bà L còn cấp trùng vào diện tích đất của rất nhiều hộ gia đình khác và vào đường đi nên ông bà cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố T cấp cho bà L là không đúng quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, ông S yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299. Công nhận diện tích 837,2m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính là của gia đình ông S.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố T có ý kiến:

Năm 1995 khi kê khai cấp GCNQSD đất, cấp theo bản đồ 299, tại thời điểm cấp giấy không kiểm tra thực tế, nay xét thấy có sự sai sót giữa bản đồ địa chính và thực tế thì đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, ông Nguyễn Lại H (khi còn sống) trình bày:

Năm 1989, ông H mua một ngôi nhà của ông Nguyễn Trọng T6 cùng hoa màu trên đất ở tổ A, phường T, thành phố T để ở. Được một thời gian, ông có khai phá thêm phần đất phía sau nhà khi đó là một lò gạch bỏ hoang để sử dụng.

Tháng 10/1991, ông H bán nhà cho ông S và có nhờ ông S quản lý cây cối trên mảnh đất đang tranh chấp. Ông H xác định chỉ bán phần đất đã mua của ông T6 cho ông S, không bán phần đất đang tranh chấp tại thửa số 88, diện tích 838,5m² cho ông S mà chỉ nhờ quản lý hộ. Ông H đề nghị Tòa án công nhận diện tích 837,2m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính là của gia đình ông và đề nghị Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà L đối với diện tích đất trên.

Nay ông H đã chết, bà Nguyễn Thị N1 (là vợ) và anh Nguyễn Văn H1 (là con trai) là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H đều có ý kiến không tiếp tục kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H theo pháp luật đối với yêu cầu của ông H nêu trên, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Bà Nguyễn Thị T4:

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp giữa bà L và vợ chồng ông S, bà T2 là của ông T6, sau đó để lại cho gia đình ông H. Ông H đã bán lại nhà, đất cho gia đình anh S, chị T2 trồng cây, bà L chưa sử dụng diện tích đất này bao giờ. Sau khi bà L ly hôn ông T5 thì đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Việc bà L được cấp GCNQSD đất bà không biết, nếu có việc cấp chồng bà đề nghị hủy GCNQSD đất của bà L, phần cấp chồng lên đất nhà bà.

Bà Nguyễn Thị L2 (Nguyễn Ngọc T3):

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp giữa bà L và vợ chồng ông S, bà T2 là trường Đại học Y1 cho ông T6 sử dụng, sau đó bán cho ông H, ông H chuyển đi nơi khác thì gia đình ông S sử dụng, bà L chưa sử dụng diện tích đất này bao giờ. Đất của gia đình bà sử dụng không tranh chấp, bà L được cấp GCNQSD đất bà không biết, nếu có việc cấp chồng, bà đề nghị hủy GCNQSD đất của bà L, phần cấp chồng lên đất nhà bà.

Bà Trần Thị H2: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp giữa bà L và vợ chồng ông S, bà T2 là của ông T6 khai phá của trường Đại học Y1, sau đó ông T6 bán cho ông H, ông H đã bán lại nhà, đất cho vợ chồng ông S, bà T2 trồng cây, bà L chưa sử dụng diện tích đất này bao giờ. Đất của gia đình bà sử dụng không tranh chấp, bà L được cấp GCNQSD đất bà không biết, nếu có việc cấp chồng bà đề nghị hủy GCNQSD đất của bà L, phần cấp chồng lên đất nhà bà.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá của Tòa án đã xác định: Diện tích đất thực tế tranh chấp 837,2m² đất RTn. Giá trị theo kết quả của Hội đồng định giá xác định 100.000đ/m2 x 837,2m² = 83.720.000đ.

Với các nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/DSST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đồng Thị L về việc yêu cầu ông Hoàng Văn S, bà Ngô Thị T2 phải trả diện tích đất 837,2m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299 lập năm 1988, theo bản đồ địa chính lập năm 1995 là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11.

- Bác yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Lại H về việc công nhận cho ông H quyền sử dụng diện tích đất 837,2m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299 lập năm 1988, theo bản đồ địa chính lập năm 1995 là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11.

- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Văn S:

+ Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 896886 vào sổ 00489/QSDĐ/T.Thịnh, do UBND thành phố T cấp cho bà Đồng Thị L ngày 8/1/1994. Cụ thể phần diện tích 837,2m², thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299 lập năm 1988, theo bản đồ địa chính lập năm 1995 là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố T (có sơ đồ chi tiết kèm theo, kí hiệu ABCĐ).

+ Công nhận diện tích 837,2m² đất RTn, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố T (thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299 lập năm 1988) cho vợ chồng ông Hoàng Văn S và bà Ngô Thị T2. (có sơ đồ chi tiết kèm theo, kí hiệu ABCĐ). Ông S, bà T2 có trách nhiệm kê khai và đăng ký quyền sử dụng đối với diện tích đất này theo quy định của pháp luật.

- Lệ phí: Tổng chi phí thẩm định, định giá là 15.082.000đ; Năm 2010: chi phí 3.712.000đ (bà Đồng Thị L đã nộp); Năm 2017 là 4.770.000đ (ông S nộp); Năm 2018 là 6.600.000đ (ông S nộp). Bà Đồng Thị L phải chịu 15.082.000đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà L có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông S, bà T2 số tiền 11.370.000₫

- Án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đồng Thị L, ông Nguyễn Lại H (người già). Bà Đồng Thị L được hoàn lại 50.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 001895 ngày 12/4/2006 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Ông Nguyễn Lại H được hoàn lại 2.500.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018500 ngày 19/1/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Ông Hoàng Văn S, bà Ngô Thị T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại 2.500.000đ tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0008515 ngày 13/2/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên

Do Bản án số 01 ngày 14/5/2020 có kháng cáo của bà Đồng Thị L, nên tại Bản án phúc thẩm số 361 ngày 29/11/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử và quyết định: Hủy Bản án sơ thẩm số 01/2020/DSST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để giải quyết lại theo thủ tục chung do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung.

Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST, ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 158; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật tố tụng hành chính; Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 20 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị L. Buộc ông Hoàng Văn S và bà Ngô Thị T2 phải trả lại cho bà Đồng Thị L diện tích 838,5m² đất (diện tích đo thực tế 837,2m²) tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11 bản đồ địa chính, loại đất RTn (đất rừng sản xuất), theo các điểm ABCĐA (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, ông Hoàng Văn S về việc đề nghị công nhận diện tích 837,2m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính là của gia đình ông và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00489/QSDĐ/T.Thịnh ngày 08/01/1994 của UBND thành phố T cấp cho bà Đồng Thị L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ 299.
  3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Lại H (người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1) về việc đề nghị công nhận diện tích 837,2m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính là của gia đình ông và đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00489/QSDĐ/T.Thịnh ngày 08/01/1994 của UBND thành phố T cấp cho bà Đồng Thị L.

Ngoài ra, bản án còn quyết định nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/12/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận được đơn kháng cáo của bị đơn là ông Hoàng Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T2. Với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S, bà T2 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Những người kháng cáo trình bày: Cơ bản giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm, bản án sơ thẩm giải quyết thiếu khách quan, đưa thiếu người tham gia tố tụng, áp dụng pháp luật không đúng dẫn đến phán quyết không đúng. Diện tích đất bà L khai phá từ năm 1983 nhưng đều đã được cấp GCNQSD đất, còn lại phần đất đang tranh chấp đang có sự chồng lấn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là chưa giải quyết đúng quy định của pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông S, bà T2 trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng cụ thể: Đưa thiếu người tham gia tố tụng, không tiến hành thẩm định, định giá tài sản đang tranh chấp; tuy 06 hộ được xác định là cấp chồng lấn lên thửa đất đang tranh chấp thì có 03 hộ đã làm nhà nhưng không đưa họ vào tham gia tố tụng là thiếu sót. Thẩm quyền cấp GCNQSD đất và trình tự cấp GCNQSD đất cho bà L không đúng, thiếu thủ tục; nguồn gốc đất xác định không đúng và có việc cấp trùng 06 hộ gia đình, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét để hủy GCNQSD đất đã cấp cho bà L là không đúng. Quá trình sử dụng đất: Năm 1989 sau khi ly hôn thì bà L không sử dụng đất nhưng vẫn kê khai, đăng ký là trái pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thu thập các GCNQSD đất đã cấp trùng để làm căn cứ giải quyết vụ án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L trình bày: Bị đơn cho rằng đất bà L cấp trùng với đất các hộ khác là không có căn cứ. Năm 1974 bà L được cấp đất và ở trên diện tích đất này đến năm 1988 chính bà L là người đầu tiên kê khai, đăng ký, đến năm 1993 được cấp GCNQSD đầu tiên đối với thửa đất. Do bà L không sử dụng nên bị các hộ gia đình khác lấn chiếm và làm đường đi nên diện tích có sự chênh lệch; 03 GCNQSD đất mà bị đơn mới xuất trình là những người mua lại của những chủ trước đó và không có gì thay đổi, họ không có tranh chấp, cũng như bà L không tranh chấp với họ. Bị đơn cho rằng GCNQSD đất của bà L không đúng là thiếu căn cứ vì đã được cấp đúng trình tự, được công nhận và Phòng T8 xác nhận, cũng như đã được Bản án số 16 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên khẳng định GCNQSD đất là đúng. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn phải trả lại quyền sử dụng diện tích 837,2m² là có căn cứ; tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn S và bà Ngô Thị T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật có tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T2 đang ở nước ngoài, nên đây là vụ án có yếu tố nước ngoài. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn là ông Hoàng Văn S có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án xem xét đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vì vậy, mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã thụ lý, nhưng sau đó đã chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng và sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Cấp sơ thẩm đã xác định nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đúng quy định của pháp luật; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền, hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại Điều 227; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng là những người bị cấp đất trùng với bà L, nhưng xét những người này không có yêu cầu, bà L cũng không có yêu cầu gì đối với những người này, nên không cần thiết đưa họ vào tham gia tố tụng.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Nguyễn Lại H đã chết, Tòa án đã đưa vợ và con của ông H vào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhưng những người này đều từ chối tham gia tố tụng, nên Tòa án đã tiến hành giải quyết không có mặt họ là đúng quy định của pháp luật.

* Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Hoàng Văn S và bà Ngô Thị T2, thấy:

[4] Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ thể hiện: Tại sổ kê khai đất của tổ A, phường T, thành phố T thì bà Đồng Thị L sử dụng các thửa số 113 có diện tích 2.390m² và thửa số 59 diện tích 2.410m², thời gian sử dụng từ năm 1976. Hộ ông Hoàng Văn S sử dụng thửa đất số 112, diện tiện tích 2.620m², thời gian sử dụng từ năm 1989. Diện tích, số thửa kê khai trong sổ phù hợp với diện tích và số thửa tại tờ bản đồ số 17, bản đồ 299.

[5] Căn cứ hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, thấy: Ngày 11/7/1993, bà Đồng Thị L có đơn kê khai, đăng ký cấp GCNQSD đất đối với diện tích 4.800m² tương ứng với diện tích và số thửa như trên. Theo đó, thửa số 113, tờ bản đồ số 17 diện tích 2.390m² (trong đó 200m² đất ở và 2.190m2 đất cây hàng năm khác); thửa số 59 tờ bản đồ số 17 diện tích 2.410m² đều là đất trồng cây hàng năm khác; bà L đã được cấp GCNQSD đất năm 1994. Ngày 08/7/1993, hộ ông Hoàng Văn S kê khai, đăng ký cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 112 diện tích 2.600m² (trong đó gồm đất ở, đất ao, đất khai hoang); năm 2000 ông Hoàng Văn S đã được cấp GCNQSD đất đối với thửa số 135, diện tích 1.963,2m², năm 2009 được cấp GCNQSD đất đối với thửa 142, diện tích 573m². Như vậy, diện tích đất đang tranh chấp ông S chưa được cấp GCNQSD đất. Căn cứ bản đồ địa chính khôi phục lại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17, bản đồ giải thửa năm 1989 của phường T, thành phố T, thì diện tích đất đang tranh chấp (nay thuộc thửa số 88, tờ bản đồ số 11) là một phần của thửa đất số 59, tờ bản đồ số 17 đã được cấp GCNQSD đất năm 1994 cho bà Đồng Thị L.

[6] Ông Hoàng Văn S cho rằng, diện tích đất đang tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Lại H từ năm 1991. Tuy nhiên, căn cứ hợp đồng mua bán nhà và hoa màu giữa ông H và ông S được lập ngày 8/9/1991 thì chỉ thể hiện diện tích 2.400m², không ghi số thửa, loại đất, tứ cận...Lời khai của ông H

khi còn sống cho rằng nguồn gốc thửa đất do ông mua của ông T6 năm 1989, ông có khai phá thêm, đến tháng 10/1991 ông bán lại cho ông S; nhưng ông H khẳng định chỉ bán cho ông S phần diện tích đất ông đã mua của ông T6, không bán phần diện tích đất đang tranh chấp. Lời khai này phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của ông S đã được cấp GCNQSD đất đối với 02 thửa đất có tổng diện tích là 2.536,2m²; ông S cho rằng, ngoài diện tích đất ông đã được cấp GCNQSD đất thì phần diện tích đất đang có tranh chấp vẫn là phần đất nằm trong diện tích đất ông đã mua của ông H, nhưng ông không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, ông thừa nhận diện tích đất đang tranh chấp ông chưa được cấp GCNQSD đất, trong khi bà L đã được cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất này từ năm 1994; việc cấp GCNQSD đất của bà L đã được cơ quan có thẩm quyền khẳng định là cấp đúng quy định của pháp luật; phù hợp với Bản án dân sự số 16/DSST ngày 23/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã có hiệu lực pháp luật.

[7] Hồ sơ quản lý đất đai của UBND phường T và Trường Đại học Y1 thể hiện: Thửa đất đang có tranh chấp trước đây thuộc khuôn viên của Trường Đại học Y, để tạo điều kiện cho một số cán bộ, giáo viên Trường đại học Y đã cùng với UBND phường T giao cho một số cán bộ, giáo viên có nguyện vọng để sử dụng làm chỗ ở và tăng gia sản xuất. Năm 1974, bà Đồng Thị L làm đơn và đã được UBND xã T, huyện Đ đồng ý cho sử dụng thửa đất tại xóm Đ, xã T, huyện Đ (nay là tổ A, phường T, thành phố T), bà và chồng bà đã làm nhà ở trên diện tích đất này; đến năm 1984 khi Trường Đại học Y1 chuyển ra chỗ mới, bà L tiếp tục xin phần đất liền kề với thửa đất của bà đang sử dụng để canh tác (nay chính là thửa số 59, tờ bản đồ số 17, theo bản đồ 299). Năm 1989, Nhà nước đo đạc để làm bản đồ 299, các hộ dân đã tự kê khai phần đất đang sử dụng để cơ quan có thẩm quyền lập sổ theo dõi, quản lý về đất đai và đo vẽ bản đồ; thửa đất của bà L được thể hiện là thửa 113, diện tiện tích 2.390m² và thửa số 59 diện tích 2.410m² (đều thuộc tờ bản đồ số 17); năm 1993 bà L tiếp tục kê khai và được UBND thành phố T cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên. Ông Nguyễn Lại H cho rằng năm 1989 ông mua đất của ông T6, sau đó khai phá thêm phần đất phía sau nhà lúc đó là một lò gạch bỏ hoang nhưng ông không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh, cũng như không phù hợp với hồ sơ quản lý đất đai. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất đang có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà L là có căn cứ.

[8] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Lại H, thấy: Như đã phân tích ở trên, thì không có căn cứ nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp do ông H khai hoang, không có căn căn xác định ông H, cũng như ông S được cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất mà thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà L, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu độc lập của ông H. Hơn nữa, sau khi ông H chết thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H đều xác định không liên quan gì, và từ chối kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H, nên không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu gì để chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận.

[9] Đối với yêu cầu của ông về việc hủy GCNQSD đất mà UBND thành phố T đã cấp cho bà L, thấy: Như đã phân tích ở trên thì có đủ căn cứ khẳng định

thửa đất đang có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà L, trên cơ sở đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, Cơ quan có thẩm quyền đã thành lập Hội đồng xét cấp GCNQSD đất, căn cứ vào kết quả xét duyệt, hồ sơ tài liệu chứng minh nguồn gốc sử dụng đất thì UBND thành phố T đã cấp GCNQSD đất cho bà L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, nội dung này đã được xem xét, giải quyết tại Bản án số16/DSST ngày 23/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu của ông S là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn xuất trình một số tài liệu là đơn đề nghị, xác nhận và bản sao GCNQSD đất của một số người cho rằng đã cấp trùng vào GCNQSD đất của bà L, nhưng quá trình giải quyết vụ án bà L không có yêu cầu gì đối với những người này, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.

Tổng hợp các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét, giải quyết đúng quy định của pháp luật, đã xem xét và đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự, tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới đáng kể làm thay đổi bản chất vụ án. Do đó, kháng cáo của ông Hoàng Văn S và bà Ngô Thị T2 không có căn cứ chấp nhận; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[10] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông S là người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn án phí, ông đã có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí phúc thẩm cho ông S; bà T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Hoàng Văn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T2; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2023 /DS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hoàng Văn S; bà Ngô Thị T2 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000₫ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000058, ngày 25/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Xác nhận bà T2 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Duy Nhiệm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 241/2024/DS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 241/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Bà Đồng Thị L - BĐ: Ông Hoàng Văn S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger