Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 240/2024/HS-ST

Ngày: 31/5/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Ông Nguyễn Ngọc Dũng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 31/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/HSST ngày 11/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Đào Văn H, sinh ngày: 05/4/1997; Tên gọi khác: không; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số nhà A T, phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đào Văn Q; Con bà: Trịnh Thị H1; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; Vợ: Ngô Thị Minh T và có 01 con sinh năm 2023;

Tiền án, tiền sự: không;

Tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

  1. Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 1987 – Vắng mặt
  2. Địa chỉ: SN A T, Phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  3. Bà Lê Thị M, sinh năm 1967 – Vắng mặt
  4. Đại chỉ: SN 47 T, Phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  5. Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1979 – Vắng mặt

1

Địa chỉ: SN 01D Phạm Sư Mạnh, Phường Nam Ngạn, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  1. Chị Ninh Thị Vân A, sinh năm 1973 – Vắng mặt

Địa chỉ: SN A H, Phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an T1 tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân tố cáo Đào Văn H có hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Ngày 19/01/2024, Đào Văn H đến Cơ quan CSĐT Công an T1 đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Từ đầu tháng 01/2023 đến tháng 12/2023, Đào Văn H sử dụng số tiền 80.000.000 đồng của mình cho nhiều lượt người trên địa bàn thành phố vay tiền bằng hình thức cho vay lãi ngày và vay thăm trả góp, giao dịch thanh toán bằng tiền mặt, cắt tiền lãi trước, với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ương với mức lãi xuất từ 146% đến 182,5%/năm (vượt quá 5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Cụ thể như sau:

  • * Cuối tháng 01/2023, H cho chị Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1987, trú tại A T, phường N, thành phố T vay 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm trả góp. H cắt trước 4.000.000 đồng tiền lãi, số tiền chị Hồng N1 thực nhận là 16.000.000 đồng và phải trả góp khoản vay trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng, tương đương lãi suất 146%/năm. Đóng được 25 ngày (tương ứng 10.000.000 đồng), chị N1 đảo thăm để vay tiếp gói 30.000.000 đồng. H cắt trước 6.000.000 đồng, chị N1 thực nhận số tiền 24.000.000 đồng và phải trả góp khoản vay trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 600.000 đồng. Chị N1 đã thanh toán đủ gốc và lãi các gói vay trên. Như vậy, H cho chị N1 vay 02 gói vay (02 kỳ) (gói 20.000.000 đồng và gói vay sau là 30.000.000 đồng), các gói vay liên tục nhau, do vậy số tiền gốc H cho chị H2 vay được xác định là 30.000.000 đồng, thu lãi 10.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất 146%/năm, số tiền được phép thu theo quy định 1.369.863 đồng, thu lợi bất chính 8.630.137 đồng (Bút lục 117-119; 143-155).
  • * Tháng 2/2023, H cho bà Lê Thị M, sinh năm 1967, trú tại D T, phường N, thành phố T vay 20.000.000 đồng với hình thức vay lãi ngày, mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. H cắt trước tiền lãi 3.000.000 đồng, bà M thực nhận số tiền 17.000.000 đồng. Các tháng tiếp theo bà M trả cho H 3.000.000 đồng tiền lãi. Đến tháng 6 năm 2023, bà M thanh toán đủ tiền gốc và tiền lãi 05 tháng tương ứng số tiền 15.000.000 đồng cho H, kết thúc gói vay.

Tháng 7 năm 2023, với hình thức trên H tiếp tục cho bà M vay số tiền 20.000.000 đồng. Đến tháng 12 năm 2023, bà M đã trả hết tiền gốc và 05 tháng tiền

2

lãi tương ứng số tiền 15.000.000 đồng cho H, kết thúc gói vay.

Như vậy, từ tháng 2/2023 đến tháng 11/2023, số tiền gốc H cho bà M vay là 20.000.000 đồng, lãi suất cho vay 182,5%/năm, H thu của bà M 10 tháng tiền lãi tương đương số tiền 30.000.000 đồng, số tiền được phép thu theo quy định 3.287.671 đồng, số tiền thu lời bất chính là 26.712.329 đồng (Bút lục 111-113; 143-155).

  • * Tháng 03/2023, H cho chị Phạm Thị H2, sinh năm 1979, trú tại A P, phường N, thành phố T vay 10.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm. H cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi, chị H2 thực nhận số tiền là 8.000.000 đồng và phải trả góp khoản vay trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng, tương đương lãi suất 146%/năm. Sau khi kết thúc gói vay này, H tiếp tục cho chị H2 vay 10.000.000 đồng hình thức vay thăm như trên, cắt trước 2.000.000 đồng. Chị H2 đóng được 30 ngày (tương ứng 6.000.000 đồng) thì đảo thăm lần 1, tính cả tiền cắt trước 2.000.000 đồng, H chỉ đưa cho chị H2 4.000.000 đồng. Chị H2 tiếp tục đóng 30 ngày (tương ứng 6.000.000 đồng) thì đảo thăm lần 2, tính cả tiền cắt trước, H chỉ đưa cho chị H2 4.000.000 đồng. Chị H2 đã trả xong gói vay này.

Như vậy, H cho chị H2 vay tổng cộng 04 khoản vay (04 kỳ), bằng hình thức vay thăm trả góp, số tiền mỗi khoản vay là 10.000.000 đồng, các khoản vay liên tục nhau. Do vậy số tiền gốc H cho chị H2 vay được xác định là 10.000.000 đồng, lãi suất 146%/năm, thu lãi tổng 04 khoản vay là 8.000.000 đồng, số tiền được phép thu theo quy định 1.095.890 đồng, thu lợi bất chính 6.904.110 đồng (Bút lục 114-116; 143-155).

  • * Đầu tháng 3/2023, H cho chị Ninh Thị Vân A, sinh năm 1973, trú tại 1 T, phường N, thành phố T vay 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, cắt trước 4.000.000 đồng tiền lãi, số tiền chị Vân A thực nhận là 16.000.000 đồng và phải trả góp khoản vay trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng, tương đương lãi suất 146%/năm. Sau khi trả xong gói vay trên, với hình thức trên H tiếp tục cho chị Vân A vay thêm 01 gói số tiền là 20.000.000 đồng, cắt lãi trước 4.000.000 đồng. Chị Vân A đã trả xong gói vay. Như vậy, H cho chị Vân A vay 02 gói vay (02 kỳ), các gói vay liên tục nhau, do vậy số tiền gốc H cho chị H2 vay được xác định là 20.000.000 đồng, lãi suất 146%/năm, thu lãi 8.000.000 đồng, số tiền được phép thu theo quy định 1.095.890 đồng, thu lợi bất chính 6.904.110 đồng (Bút lục 119-125; 143-155).

Ngày 19/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an T1 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Văn H tại địa chỉ số nhà A T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng tron giao dịch dân sự (Bút lục 13-15).

Về dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị M, chị Phạm Thị H2, Nguyễn Thị Hồng N1, Ninh Thị Vân A đến nay đã thanh toán đủ số tiền gốc đã vay của Đào Văn H.

3

Quá trình điều tra, Đào Văn H đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập.

Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKSTP ngày 09/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự 2015.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Đại diện VKS đề nghị HĐXX: Tuyên bố Đào Văn H phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Phạt tiền từ 70.000.000₫ đến 80.000.000đ.

Hình phạt bổ sung: Đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền Đào Văn H dùng để cho vay là 80.000.000đ;

Truy thu của Đào Văn H toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N3 là 6.849.314 để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền Đào Văn H thu lời bất chính của bà Lê Thị M, chị Lê Thị Hồng N, chị Phạm Thị H2 và chị Ninh Thị Vân A. Do những người này không yêu cầu trả lại nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

    Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

  2. Về hành vi phạm tội:

    Từ đầu tháng 01/2023 đến tháng 12/2023, Đào Văn H sử dụng số tiền 80.000.000 đồng của mình cho nhiều lượt người trên địa bàn thành phố vay tiền bằng hình thức cho vay lãi ngày và vay thăm trả góp, giao dịch thanh toán bằng tiền mặt, trả lãi qua tài khoản, cắt tiền lãi trước, với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ứng với mức lãi xuất từ 146% đến 182,5%/năm (vượt quá 5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Tổng số tiền lãi đã thu của các khoản vay là 56.000.000 đồng, trong đó số tiền tiền lãi xác định theo quy định của Bộ luật dân sự là 6.849.314 đồng; Tổng số tiền lãi Đào Văn H thu lời bất chính là 49.150.686 đồng.

    Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

    Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “ “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

    Hiện nay hoạt động cho vay nặng lãi đang diễn ra thường xuyên và ngày càng phức tạp. Hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra hoạt động cho vay nặng lãi còn làm cho nhiều người phải tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, gia đình ly tán và nó còn là nguyên nhân làm gia tăng hoạt động bạo lực, uy hiếp sử dụng vũ lực, chiếm đoạt, cưỡng đoạt tài sản của người vay hoặc người thân trong gia đình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

  4. Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

    Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Đầu thú hành vi phạm tội. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng: Không

  5. Về hình phạt:

    Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

    Hình phạt bổ sung: Trong vụ án này đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5

  1. Các biện pháp tư pháp:
    • Đối với khoản tiền cho vay và số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự:

      Truy thu của Đào Văn H để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Đào Văn H dùng để cho vay là 80.000.000đ;

      Truy thu của Đào Văn H toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của ngân hàng nhà nước là 6.849.314 (Trong đó số tiền Đào Văn H thu của chị Nguyễn Thị Hồng N1 là 1.369.863 đồng; T của bà Lê Thị M là 3.287.671 đồng; T của chị Phạm Thị H2 là 1.095.890 đồng và thu của chị Ninh Thị Vân A là 1.095.890 đồng.

    • Đối với khoản tiền thu lời bất chính:

      Đối với bà Lê Thị M đã được Tòa án giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền thu lời bất chính của bà cho bà, nhưng bà M có đơn xin xử vắng mặt và bà cho bị cáo khoản tiền thu lời bất chính vì giữa bà với bị cáo có quan hệ hàng xóm với nhau. Nên công nhận sự định đoạt và quyền tự định đoạt của đương sự, không buộc bị cáo phải trả lại khoản tiền thu lời bất chính cho bà Lê Thị M.

      Đối với số tiền lãi Đào Văn H thu vượt quá quy định của pháp luật của chị Nguyễn Thị Hồng N1, Phạm Thị H2, Ninh Thị Vân A. Quá trình điều tra những người này khai không yêu cầu gì về phần dân sự. Nhưng tại phiên tòa họ vắng mặt, nên chưa được Hội đồng xét xử giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật và cũng chưa có ý kiến của họ về việc đã được Hội đồng xét xử giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền này, nhưng vẫn không yêu cầu.

      Mặt khác xét thấy đây là số tiền bị cáo thu lời bất chính của những người vay, do đó để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho những người vay thì cần buộc bị cáo Đào Văn H phải có trách nhiệm trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật cho chị Nguyễn Thị Hồng N1, Phạm Thị H2, Ninh Thị Vân A.

  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”.

6

Xử phạt: Phạt tiền Đào Văn H 70.000.000đ ( Bảy mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu của Đào Văn H để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Trần Trung N2 dùng để cho vay là 80.000.000đ;

Truy thu của Đào Văn H toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của ngân hàng nhà nước là 6.849.314.

Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật cụ thể: Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền 8.630.137 đồng; Chị Phạm Thị H2 6.904.110 đồng ; Chị Ninh Thị Vân A 6.904.110 đồng.

Công nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị M về việc không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền thu lời bất chính.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 240/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger