|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 240/2024/DSPT Ngày: 31 - 5 -2024 V/v “tranh chấp ranh giới, mốc giới thửa đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Hải;
Bà Phan Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 525/2023/TLPT- DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ranh giới đất, mốc giới thửa đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 155/2023/DS - ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Cái Răng bị các nguyên đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2024/QĐPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- 1.1 Ông Dương Kim Á, sinh năm 1951; (có mặt)
- 1.2 Bà Dương Thị Hồng L, sinh năm 1976; (có mặt)
- 1.3 Bà Dương Thị Lan H, sinh năm 1978; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số I Tổ D, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nguyên đơn: ông Trần Thanh P, sinh năm 1951 là Luật sư thuộc Văn phòng L3; địa chỉ: A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1960; (có mặt)
Địa chỉ: Số A Tổ D, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông V: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1987 là luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố C; địa chỉ: Số A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3. Người kháng cáo: Ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông Á là ông T (chết 2001), bà L1 (chết 2005) từ năm 1967. Căn nhà được ông T, bà L1 xây cất năm 1967 chừa lại một phần đất bên hông dọc theo căn nhà 0.35m để làm ô văng, máng xối ló ra. Đến nay ô văng, máng xối này vẫn còn. Ông T được Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ công nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01/10/1990 diện tích 627m². Năm 1999 ông T cho ông Á sử dụng và đứng tên phần đất này, ngày 19/5/2000 ông Á được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất diện tích 586.8m².
Năm 2004 ông Á tặng cho e ruột và hai con một phần đất, diện tích còn lại sau tặng cho là 269.8m². Ngày 16/3/2022 ông Á được cấp đổi Giấy chứng nhận mới với diện tích 262.7m². Tháng 7/2022 ông Á tiếp tục tách thửa tặng cho bà L 48.9m², tặng cho bà H 51.3m², diện tích của ông còn lại 51.5m². Sau khi tách thửa ông và bà L, bà H đều được cấp Giấy chứng nhận mới.
Ông V mua lại thửa đất hiện tại vào năm 1985 và sinh sống từ đó đến nay. Khi đó nhà cây vách ván, hàng cột cách vách tường nhà ông hơn 40cm (là khoảng cách của ô văng, mang xối). Năm 2003 ông V cất lại nhà tiền chế, áp sát tường nhà ông. Ngày 25/8/2020 ông V được cấp Giấy chứng nhận. Ngày 06/02/2023 ông V được cấp lại Giấy chứng nhận diện tích 102.7m² tăng thêm 18.5m². Quá trình đo đạc cấp lại Giấy chứng nhận cho ông V không có sự chứng kiến của ông Á, bà L, bà H. Ông V lập trước biên bản và dùng tình cảm (do có bà con, họ hàng) kêu ông ký tên giáp ranh. Riêng bà L, bà H không có mặt, không ký giáp ranh.
Hiện ông V xây dựng nhà, lấn ranh sát với vách tường làm ảnh hưởng đến ô văng, máng xối nhà ông bà nên khởi kiện yêu cầu: Ông V trả cho ông Á ngang 0.35m x dài 8.35m = 2.9m² thuộc thửa 182, trả cho bà L ngang 0.35m x dài 7.7m = 2.7m² thuộc thửa 387, trả cho bà H ngang 0.35m x dài 6.5m = 2.3m² thuộc thửa 388.
Bị đơn trình bày: Năm 1987 ông nhận chuyển nhượng phần đất thửa 114 cạnh nhà ông T, bà L1 (Cha mẹ ruột ông Á), khi đó không có con hẽm nào giữa hai nhà. Năm 1994 ông Á về ở tại đây. Năm 2000 ông được cấp Giấy chứng nhận thửa đất này, năm 2003 sửa chữa lại căn nhà và sử dụng ổn định đến nay.
2
Trước đó, vào năm 2004 và năm 2022 khi ông Á làm thủ tục tặng cho đất cho bà Đ1 (em ruột ông Á), bà L, bà H (con ông Á) thì đều có đo đạc ranh giới phù hợp với hiện trạng thực tế bây giờ, đều được hai bên gia đình thống nhất ký tên xác nhận nên việc ông Á tặng cho là phù hợp, đúng quy định pháp luật và đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận.
Năm 2022 ông làm thủ tục đo đạc lại cấp lại Giấy chứng nhận và đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận vào ngày 06/02/2023 với diện tích 102.7m². Thủ tục đo đạc đều được gia đình ông Á xác định, ký xác nhận ranh giới đất, không tranh chấp. Do quá trình cấp Giấy chứng nhận cho ông Á, bà Đ1, bà L, bà H được Nhà nước thực hiện đúng trình tự, thủ tục luật định, có đo đạc và đều được hai bên gia đình ký xác nhận ranh giới, mốc giới đất nên cho rằng ông đã lấn đất của gia đình ông Á là không có căn cứ nên không đồng ý trả lại đất theo đơn khởi kiện.
Ông có yêu cầu phản tố buộc ông Á, bà L, bà H tháo dỡ 02 mái tole kẽm và 02 máng xối, 01 ô văng đã lấn chiếm sang phần đất của ông thửa 114 với tổng diện tích khoảng 2.268m².
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 155/2023/DS- ST ngày 14/9/2023 Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H về việc yêu cầu ông Trần Văn V.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn V về việc công nhận phần đất tranh chấp diện tích 14.2m² (ODT) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 8 tại Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H và ông Trần Văn V được quyền liên hệ cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất của mình cho phù hợp với kết quả của bản án này (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 972/TTKTTNMT ngày 07/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C).
Ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 5.592.000 đồng (đã thực hiện xong). Ông Dương Kim Á được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003277 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng bà L, bà H phải nộp thêm 300.000 đồng.
Bản án trên đã bị các nguyên đơn kháng cáo,
Tại phiên tòa phúc thẩm:
3
Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.
Các nguyên đơn đều thống nhất và trình bày: Hiện trạng căn nhà của các nguyên đơn đã có từ trước khi ông V về sinh sống. Trước đây giữa nhà nguyên đơn và bị đơn có khoảng trống làm đường đi. Đồng thời, các lần nguyên đơn cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V đều có ký giáp ranh.
Bị đơn trình bày: Từ khi ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có căn nhà tiền chế, phía giáp với căn nhà của nguyên đơn không có vách, ông sử dụng vách chung nhờ của nguyên đơn từ trước đến nay. Do đo, giữa hai căn nhà của nguyên đơn và bị đơn không có khoảng trống như nguyên đơn trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Á xác định, thời điểm cấp giấy năm 2022 đã bao gồm khoảng đất trống như trình bày trước đây. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thể hiện, chiều ngang phía trước thửa đất của nguyên đơn tiếp giáp bị đơn là 5,50m, diện tích đo đạc thực tế là 5,82m (chưa tính phần đất tranh chấp). Như vậy, diện tích sử dụng thực tế của nguyên đơn không giảm so với diện tích được cấp giấy chứng nhận mà lại tăng 0,32m. Mặt khác, qua xem xét hiện trạng thực tế tài sản tranh chấp, có cơ sở để xác định, căn nhà của bị đơn liền kề với căn nhà của nguyên đơn, không có khoảng trống. Tại biên bản hòa giải ngày 14/6/2023 của Ủy ban nhân dân phường H, nguyên đơn ông Á trình bày là đối với phần tấm xi măng, ông đồng ý di dời về phần quyền sử dụng đất của ông theo vị trí từ tường hiện hữu trở vào. Tại biên bản hòa giải ngày 26/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H, ông T1 (Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H) xác định, phần máng xối và ô vang nằm trong giấy đất của bị đơn, không nằm trong giấy đất của nguyên đơn.
Từ những tình tiết trên, có căn cứ để xác định, phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của bị đơn, ranh giới là điểm tiếp giáp giữa vách tường nhà của nguyên đơn với thửa đất của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự quy định: “Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác”. Như vậy, bị đơn được quyền sử dụng không gian phía trên thửa đất của bị đơn. Do ô vang,
4
máng xối, mái tole nhà của nguyên đơn lấn sang không gian thửa đất của bị đơn, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn tháo dỡ là phù hợp, đúng theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 155/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của các nguyên đơn tại phiên tòa xác định, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể: Buộc ông Trần Văn V tháo dở công trình, vật kiến trúc trả lại cho các nguyên đơn diện tích đất cụ thể: trả cho ông Á ngang 0.35 x dài 8.35 = 2.9m² thuộc thửa 182, bà L ngang 0.35m x dài 7.7m = 2.7m² thuộc thửa 387, trả cho bà H ngang 0.35m x dài 6.5m = 2.3m² thuộc thửa 388.
[2] Xét thấy, căn cứ pháp lý để nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của mình là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các nguyên đơn được cấp. Về nguồn gốc quyền sử dụng đất của các thửa đất này là của cha mẹ ông Á tạo lập từ năm 1967 đến năm 1990 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 627m², năm 1999 ông Á được cha mẹ tặng cho lại quyền sử dụng đất đến ngày 19/5/2000 ông Á được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 586.8m² nêu trên. Quá trình sử dụng đất ông Á đã nhiều lần tặng cho quyền sử dụng đất. Cụ thể, năm 2004 ông Á tặng cho e ruột và hai con một phần đất, diện tích còn lại sau tặng cho là 269.8m². Ngày 16/3/2022 ông Á được cấp đổi Giấy chứng nhận mới với diện tích 262.7m². Tháng 7/2022 ông Á tiếp tục tách thửa tặng cho bà L 48.9m², tặng cho bà H 51.3m², diện tích của ông còn lại 51.5m². Sau khi tách thửa ông Á, bà L, bà H đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các nguyên đơn được cấp thì xác nguyên đơn được quyền sử dụng các thửa đất có diện tích cụ thể như sau: Ông Dương Kim Á diện tích ngang trước 5.50 ngang sau 6.18, tổng diện tích 51.5; bà Dương Thị Lan H tổng diện tích 51.3 ngang trước 6.52 ngang sau 6.35 + 1.8; bà Dương Thị Hồng L tổng diện tích 48.9 ngang trước 6.18 ngang sau 6.52, cho đến nay các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Á, bà H, bà L vẫn còn có giá trị pháp lý.
5
[3] Về nguồn gốc quyền sử dụng đất của ông V: Ông V nhận chuyển nhượng từ năm 1994, đến 2004 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 84,2m². Năm 2022 ông V có lập thủ tục chỉnh lý biến động tăng diện tích đất sử dụng từ 84.2m² tăng lên 104,7m². Việc biến động tăng này đã được xác nhận từ việc đo đạc trước đây có sai số. Đồng thời, khi tiến hành thủ tục chỉnh lý biến động có thực hiện việc đo đạc lại thì ông Á và các hộ dân liền kề đều ký giáp ranh để xác định ranh giới đất giữa các bên. Đến nay, ông V đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận này vẫn còn giá trị pháp lý.
[4] Về quá trình sử dụng đất: Theo hồ sơ thể hiện và lời thừa nhận của các đương sự tại phiên tòa cho thấy trên các thửa đất các nguyên đơn đang sử dụng có tồn tại một căn nhà được xây dựng từ năm 1967 cho đến nay không thay đổi, kết cấu và hiện trạng. Căn cứ vào các hình ảnh do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và biên bản thẩm định tại chỗ tài sản ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng và lời thừa nhận của các đương sự cho thấy phần vách tường giáp với đất của bị đơn có máng xối và 03 sê nô (ovan) de ra phần đất đang tranh chấp (diện tích cụ thể sê nô 10,33m x 2,3 = 0.76m², sê nô 02 diện tích 0.57 x 0.35 = 0.2m², sê nô 3 diện tích 0.5 x 0.25m = 0.14m²), các sê nô này gắn liền với căn nhà và cũng tồn tại từ năm 1967 cho đến nay. Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp cặp bên nhà dưới Sê nô trước đây là khoảng đất trống nguyên đơn sử dụng đến khi xảy ra tranh chấp, giữa đất nguyên đơn và bị đơn có trụ cột làm ranh nhưng đã bị phía bị đơn tháo dở và xây lại hàng cột mới. Bị đơn cho rằng giữa 02 nhà không có khoảng đất trống vì nhà bị đơn là loại nhà tiền chế không vách, bị đơn sử dụng vách nhờ nhà của nguyên đơn từ trước đến nay. Xét thấy, mặc dù hiện trạng nhà của các nguyên đơn không thay đổi là có các sênô de ra phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, tại thời điểm các nguyên đơn, bị đơn được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên đều tiến hành đo đạc và thiết lập lại ranh giới đất với kích thước, diện tích các thửa đất được thể hiện theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên. Đối chiếu với kết quả đo đạc sử dụng đất thực tế, phần đất của ông Á tại thửa 182 chiều ngang trước dư ra 0,32m và tổng diện tích sử dụng 53m² dư ra 1,5m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời nếu cộng cả phần tranh chấp thì tổng diện tích dư ra là 6.5m². Phần đất tại thửa 387 của bà L 46.7 thiếu 2.2m² nhưng nếu cộng phần tranh chấp 5,4m² vào thì đất dư ra là 3.8m². Đối với thửa đất 388 của bà H thực tế sử dụng 46.1m² còn thiếu 5,2m² nếu cộng diện tích đất tranh chấp vào thì còn thiếu 1.4m². Tuy diện tích các thửa 182, 387,388 có dư, có thiếu nhưng nếu cộng tổng diện tích tranh chấp vào thì dư ra là 8.3m² trong khi thửa 114 của ông V thiếu 2.3m².
[5] Từ những nhận định trên cho thấy, các nguyên đơn chưa chứng minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình so với giấy chứng nhận
6
quyền sử dụng đất. Do đó, yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Á được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Bà L và bà H được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0003465, 0003464 ngày 29/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Kim H1.
2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 155/2023/DS- ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
2.1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H.
2.2 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn V về việc công nhận phần đất tranh chấp diện tích 14.2m² (ODT) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 8 tại Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Buộc ông Dương Văn Á1 tháo dỡ 01 ô văng, 01 máng xối; bà Dương Thị hồng L2 tháo dỡ 01 ô văng, 01 máng xối; bà Dương Thị Lan H tháo dỡ 01 mái tole lấn chiếm sang phần đất của ông V.
2.3 Ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H và ông Trần Văn V được quyền liên hệ cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất của mình cho phù hợp với kết quả của bản án này (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 972/TTKTTNMT ngày 07/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C).
7
3. Về chi phí tố tung: Ông Dương Kim Á, bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 5.592.000 đồng (năm triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng) đã thực hiện xong.
4. Về án phí dân sự
4.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Kim Á được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0003277 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H mỗi người phải nộp thêm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
4.2 Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Kim Á được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Bà Dương Thị Hồng L, bà Dương Thị Lan H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà L và bà H được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0003464, 0003465 ngày 29/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
8
9
Bản án số 240/2024/DSPT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới, mốc giới thửa đất
- Số bản án: 240/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới, mốc giới thửa đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Á - Viễn - Tranh chấp ranh giới, mốc giới thửa đất
