|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 240/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lượng
Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn K - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 213/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Bình Đ, sinh ngày 27/12/2002 tại Nghệ An; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 58/2021/HSST ngày 12/3/2021. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/8/2021 và đóng án phí ngày 04/10/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
2. Trần Đinh Nhật H1, sinh năm 2001 tại Hòa Bình; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không;
con ông Trần Văn S và bà Đinh Thùy D; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
* Người tham gia tố tụng khác:
1- Bị hại: Ông Đặng Hữu T, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số B đường I, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Ông Cao Bảo T1, sinh năm 1997
Địa chỉ: Số E đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)
2.2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số B tổ A, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp và không có nơi cư trú nên Nguyễn Văn Bình Đ, Trần Đình Nhật H2 và 02 đối tượng tên N và H3 (chưa rõ lai lịch) thường tập trung chơi và ngủ qua đêm tại các tiệm Net, G khu vực phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Tối ngày 19/12/2023, Đ rủ H2, N, H3 tối 20/12/2023 cùng đi trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Cả nhóm hẹn gặp nhau lúc 22 giờ ngày 20/12/2023 tại tiệm N1, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi đợi đến khoảng 23 giờ đi bộ từ địa bàn phường B, thành phố T qua địa bàn phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm trụ sở các cơ quan nhà nước hay nhà dân sơ hở để đột nhập vào trộm tài sản.
Khoảng 01 giờ, ngày 21/12/2023, khi đến cổng Trường THCS D1, địa chỉ H đường L, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đ thấy có khe hở giữa trụ cổng và cánh cổng trường có thể chui qua được nên nói H2, N và H3 đứng ngoài cảnh giới để Đ đột nhập vào trong tìm tài sản. Sau đó, H2, N và H3 đứng ngoài cổng trường Dương Văn T3 cảnh giới, còn Đ chui qua khe hở cổng vào trong trường Dương Văn T3 đi men theo đường hành làng vòng quanh trường nhưng không thấy phòng nào mở cửa. Khi đến bức tường phía sau thấy bên cạnh là Trường THPT B, địa chỉ H đường L, Khu phố C,
phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Đ leo lên 01 thân cây sát tường rồi leo qua tường đột nhập vào khuôn viên của Trường THPT B1 đến Phòng Y tế thấy cửa đang hé mở bên trong có đèn, Đ nhìn vào thấy ông Đặng Hữu T đang nằm ngủ trên giường, tại đầu giường có để 01 máy điện thoại đi động hiệu Iphone 11 và trên bàn làm việc có để 01 máy tính xách tay hiệu Victus đang sạc pin. Đ lén lút đột nhập vào phòng, lấy máy Laptop mang ra ngoài nhà ăn của trường để rồi quay lại vào phòng lấy điện thoại di động và bộ cáp sạc của máy tính xách tay rồi tẩu thoát bằng đường cũ. Khi Đ ra ngoài, cả nhóm đón xe taxi đi về tiệm N1 tại phường B, thành phố T chơi game đến sáng.
Khoảng 07 giờ ngày 21/12/2023, Đ một mình đi bộ đến cửa hàng mua bán điện thoại B, địa chỉ 2 Tổ A, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán cho chủ tiệm là ông Nguyễn Văn T2 với giá 800.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đ tiếp tục một mình mang máy tính xác tách tay đến cửa hàng cầm đồ Q, địa chỉ E khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương cầm máy cho chủ tiệm là ông Cao Bảo T1 với giá 7.000.000 đồng. Sau khi cầm máy, do không có ý định chuộc lại nên Đ đã ném bỏ hợp đồng cầm đồ.
Đ mang tiền về chia cho N và H3 mỗi người 1.000.000 đồng, chia cho H2 500.000 đồng, trả tiền chơi G, bao ăn uống cho H2. Còn lại số tiền 5.300.000 đồng Đ mua 01 máy điện thoại di động hiệu Samsung giá 3.300.000 đồng để sử dụng, 2.000.000 đồng Đ và H2 sử dụng tiêu xài, còn lại 1.400.000 đồng.
Ông Đặng Hữu T ngay khi ngủ dậy phát hiện máy tính xác tay và điện thoại di động bị mất đã cùng bảo vệ ca trực đêm hôm đó của trường là ông Phạm Sỹ Q xem lại hệ thống camera của trường phát hiện 01 nam thanh niên đột nhập vào trường và vào phòng Y tế trộm tài sản của ông T nên ông T đã đến Công an phường B trình báo.
Từ hình ảnh camera đối tượng thu được, Đ1 Công an thành phố T đã phối hợp cùng với Công an phường B truy xét phát hiện đưa các đối tượng Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 về làm việc vào ngày 27/12/2023, đồng thời thu giữ vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án.
Tại Công an phường B và tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T Đ và H1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi cùng N và H3 trộm cắp tài sản như nội dung nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 57 -KV3/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) máy vi tính xách tay hiệu HP VICTUS màu Đen. Thông số kỹ thuật: Màn hình 16 inch; CPU: AMD Ryzen 5 - 5600Hz; Ram 08GB; Ổ cứng 512GB, GPU (Card đồ họa) AMD Radeon Graphic Processor 4GB (Card tích hợp) và NVIDIA Geforce RTX 3050 Ti (card rời) có giá trị 12.500.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động
hiệu Apple Iphone 11 màu đỏ, bộ nhớ trong 64GB có giá trị 5.767.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 18.267.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) máy vi tính xách tay hiệu HP VICTUS màu đen. Thông số kỹ thuật: Màn hình 16 inch; CPU: AMD Ryzen 5 - 5600Hz; Ram 08GB; Ổ cứng 512GB; 01 (Một) máy điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 màu đỏ, bộ nhớ trong 64GB. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông Đặng Hữu T.
- 1.400.000 đồng tiền mặt và 01 điện thoại di động hiệu S1 A14.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Hữu T không yêu cầu bồi thường dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cao Bảo T1 yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn T2 yêu cầu bồi thường 800.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 209/CT-VKS ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Đinh Nhật H1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về dân sự và vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo Đ, H1 nói lời sau cùng: các bị cáo rất ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ
Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tại Trường THCS B, địa chỉ H L, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 trị giá 5.767.000 đồng, 01 máy tính xách tay hiệu HP Victus trị giá 12.500.000 đồng của anh Đặng Hữu T. Tổng giá trị tài sản là 18.267.000 đồng
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trên của bị hại, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 18.267.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Đ là người trực tiếp lấy trộm tài sản, H1 là người cảnh giới. Xét về nhân thân thì bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ có nhân xấu: Ngày 12/3/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đã chấp hành xong án phạt tù và đóng án phí (Thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi). Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở
hữu, quản lý hợp pháp về tài sản của người khác và còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Riêng bị cáo Trần Đinh Nhật H1 mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại ông Đặng Hữu T không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cao Bảo T1 yêu cầu các bị cáo bồi thường 7.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn T2 yêu cầu các bị cáo bồi thường 800.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho ông T1 và ông T2 số tiền nêu trên. Xét yêu cầu bồi thường của ông Cao Bảo T1 và ông Nguyễn Văn T2 là phù hợp quy định tại các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận; buộc các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Cao Bảo T1 số tiền 7.000.000 đồng và liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 số tiền 800.000 đồng. Cụ thể phần bồi thường của mỗi bị cáo như sau:
- Phần của bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ: bồi thường cho ông T1 3.500.000 đồng, bồi thường cho ông T2 400.000 đồng, tổng cộng 3.900.000 đồng.
- Phần của bị cáo Trần Đinh Nhật H1: bồi thường cho ông T1 3.500.000 đồng, bồi thường cho ông T2 400.000 đồng, tổng cộng 3.900.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) máy vi tính xách tay hiệu HP VICTUS màu đen. Thông số kỹ thuật: Màn hình 16 inch; CPU: AMD Ryzen 5 - 5600Hz; Ram 08GB; Ổ cứng 512GB; 01 (Một) máy điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 màu đỏ, bộ nhớ trong 64GB. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông Đặng Hữu T.
- Đối với số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của Đ là số tiền còn lại do bán tài sản của anh T mà có, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- 01 điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A14 thu giữ của Đ là tài sản có được từ tiền bán các tài sản của anh T mà có, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Bị cáo Trần Đinh Nhật H1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Đối với đối tượng tên N và H3 (Chưa rõ nhân thân lai lịch) nên chưa có cơ sở xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục truy xét xử lý sau.
[10] Đối với ông Cao Bảo T1 mua máy tính xách tay và Nguyễn Văn T2 mua điện thoại di động của Nguyễn Văn Bình Đ ngày 21/12/2023 nhưng không biết máy tính xách tay và điện thoại di động là do Đ trộm cắp mà có do Đ nói là tài sản của cá nhân Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với T1 và T2 là có cơ sở.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với các bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án và dân sự.
Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Đinh Nhật H1 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2023.
- Ghi nhận việc bị hại Đặng Hữu T không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.
- Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015:
+ Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Cao Bảo T1 số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng và liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng. Cụ thể phần bồi thường của mỗi bị cáo như sau:
- Phần của bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ: bồi thường cho ông Cao Bảo T1 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng, tổng cộng 3.900.000 (Ba triệu Chín trăm nghìn) đồng.
- Phần của bị cáo Trần Đinh Nhật H1: bồi thường cho ông Cao Bảo T1 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng, tổng cộng 3.900.000 (Ba triệu Chín trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Cao Bảo T1 và ông Nguyễn Văn T2 mà các bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ và Trần Đinh Nhật H1 chậm trả số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức tiếp tục tạm giữ số tiền số tiền 1.400.000 (một triệu bốn trăm nghìn) đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 để đảm bảo thi hành án.
(Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/274C ngày 21/5/2024
Tiền tại Phiếu ủy nhiệm chi số 11 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Nguyễn Văn Bình Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;
- Bị cáo Trần Đinh Nhật H1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm
* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Sương |
Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 240/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
