Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29/8/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 29/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 128/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

HKTT: thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: thôn G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Đỗ Đình K, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh K tại Việt Nam: thôn Ngò 1, xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Anh K hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Nguyễn Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Đình K kết hôn ngày 22/8/2011 và đăng ký tại UBND xã Đ, huyện Y trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên hiện nay vợ chồng chị đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh K đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan năm 2022, vợ chồng xa cách. Hiện nay anh chị đã sống ly thân với nhau và không quan tâm gì đến nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đỗ Đình K được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Khánh H1, sinh ngày 22/02/2012. Hiện nay cháu H1 đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu H1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Đỗ Đình K hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh K đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh K.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh K là bà Trần Thị Q, sinh năm 1953; địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Đình K, anh K hiện đang lao động tại Đài Loan từ năm 2022 đến nay chưa về nước. Gia đình bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh K qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh K ở nước ngoài. Vợ chồng anh K chị H đã sống ly thân từ lâu, chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Về việc ly hôn của anh K chị H bà không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tòa án đã làm việc với cháu Đỗ Khánh H1 thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh K vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H được ly hôn với anh Đỗ Đình K.

Về con chung: Giao cháu Đỗ Khánh H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: chị Nguyễn Thu H phải chịu phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thu H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Đỗ Đình K. Bị đơn anh Đỗ Đình K có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 13454/QLXNC-P3 ngày 25/6/2024 của Cục Q1 thì anh K đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 22/10/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Đỗ Đình K được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Trần Thị Q là mẹ đẻ của anh K xác định hiện anh K đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh K theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H và anh Đỗ Đình K đăng ký kết hôn ngày 22/8/2011 tại UBND xã Đ, huyện Y, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh K. Xem xét đơn khởi kiện của chị H, HĐXX thấy: chị H xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Anh K hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, sống ly thân với nhau, chị H xác định vợ chồng đã không còn liên lạc, không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh K.

[4]. Về con chung: chị H và anh K có 01 con chung là cháu Đỗ Khánh H1, sinh ngày 22/02/2012 hiện đang ở cùng với chị H và cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Anh K hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đỗ Khánh H1.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị H không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Nguyễn Thu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Đỗ Đình K.
  2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Khánh H1, sinh ngày 22/02/2012 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001210 ngày 27/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  2. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Đỗ Đình K hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Chị Nguyễn Thu H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 240/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồng ly hôn Khiêm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger