|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 240/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 25/6/2024.
Về việc tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Khánh
2. Ông Kiều Xuân Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 170/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST– HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích D, sinh ngày 17/9/2000; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh T, sinh ngày 09/11/2000; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người làm chứng:
- 3.1. Bà Lê Thị H (mẹ đẻ anh T)
- 3.2. Đỗ Văn T1 (bố anh T)
Đều cư trú tại: Thôn V, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội.
Có mặt: Chị D, anh T, bà H, ông T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 14/4/2024, những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích D kết hôn với anh Đỗ Mạnh T trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 05/01/2024. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống tại thôn V, xã V, huyện M. Quá trình sinh sống vợ chồng chị thường xuyên cãi nhau, đôi khi còn đánh nhau, chửi nhau về những chuyện lặt vặt về cuộc sống vợ chồng. Đến ngày 18/2/2024 thì chồng chị đuổi chị ra khỏi nhà khi chị đang có thai được khoảng 5 tuần với lý do anh T bảo chị nộp tiền lương, tiền thu nhập hàng tháng của chị nhưng chị không nộp và nhà anh T còn giữ chiếc xe máy của chị. Sau khoảng 1 tuần thì chị đi khám thai ở bệnh viện Đ, bác sỹ bảo chị bị thai lưu và chị cũng làm thủ tục nhập viện để hút thai luôn tại đây. Từ ngày chị bị đuổi ra khỏi nhà, gia đình nhà chị có đến gia đình nhà chồng tôi để hòa giải nhưng chồng chị bảo không thể chung sống với chị nữa, không cho chị vào nhà và vợ chồng chị cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Đối với lời khai của anh T đã nộp cho Tòa án theo bản tự khai là không đúng vì anh T cố ý nói chị như vậy để đuổi chị ra khỏi nhà. Giữa chị và anh T mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Nay chị D xác định tình cảm không còn do vậy chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: vợ chồng anh, chị không có con chung.
Về tài sản chung: vợ chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo Bản tự khai ngày 09/5/2024, những lời khai tại Tòa án, bị đơn là anh Đỗ Mạnh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Bích D kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy bandân xã V, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 05/01/2024. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống tại thôn V, xã V, huyện M. Quá trình chung sống vợ chồng anh có rất nhiều mâu thuẫn xảy ra. Việc chị D khai bị anh đuổi ra khỏi nhà là không đúng, anh không đuổi chị D và gia đình anh cũng không đuổi chị D ra khỏi nhà. Việc chị D nói thai chết lưu thai là không đúng vì chị D đã tự bỏ thai (khoảng 02 tuần sau khi chị D bỏ đi khỏi nhà anh), chị D có nói với anh rằng chị D cũng từng bỏ 3 đứa con rồi. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhưng không thành. Ngoài ra, anh T còn khai trong quá trình sinh sống vợ chồng anh cũng nhiều lần đánh, cãi nhau nguyên nhân là do những chuyện lặt vặt trong gia đình như: do ngủ ngáy, nấu cơm, rửa bát, ăn uống, hỗn láo với mẹ anh, chị D còn đập chiếc điện thoại mới mua của anh...và anh còn cung cấp USB chứng minh những mâu thuẫn của vợ chồng anh, chứng minh chị D khai là không đúng. Nay chị D xin ly hôn, anh không đồng ý và anh đề nghị Tòa tiến hành xác minh là rõ những vấn đề còn mâu thuẫn, yêu cầu chị D phải đến đối chất với gia đình anh về những sự việc chị D khai không đúng, chị D khai như vậy là vu oan cho gia đình anh.
Về con chung: vợ chồng anh, chị không có con chung.
Về tài sản: anh T không có ý kiến, quan điểm gì.
Tại phiên tòa,
Chị D giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị.
Anh T trình bày vợ chồng anh, chị có rất nhiều mâu thuẫn như đã nêu trên. Nay chị D xin ly hôn, trong suốt diễn biến phiên tòa từ đầu anh T không đồng ý ly hôn nhưng trước khi Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận anh T thay đổi ý kiến: chị D xin ly hôn anh đồng ý ly hôn; về con chung: anh, chị không có con chung; về tài sản chung: anh, chị không có tài sản chung.
Bà H trình bày: Anh Đỗ Mạnh T là con đẻ của bà có kết hôn với chị Nguyễn Thị Bích D ngày 05/01/2024. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị D có rất nhiều mâu thuẫn lặt vặt trong cuộc sống vợ chồng như anh T đã trình bày. Chị D tự ý bỏ khỏi nhà đi chứ anh T, gia đình bà không đuổi chị D ra khỏi nhà. Chị D nói thai chết lưu thai là không đúng vì chị D đã tự bỏ thai (khoảng 02 tuần sau khi bỏ đi khỏi nhà), chị D có nói với anh T rằng chị D tự bỏ và cũng từng bỏ 3 đứa rồi. Việc chị D trình bày như đã nêu là không đúng sự thật, vu oan, vu khống cho gia đình bà (có USB ghi lại đã nộp cho Tòa án) và bà đã làm đơn đến Cơ quan công an để làm rõ vấn đề này. Bà đề nghị Cơ quan có thẩm quyền giải quyết, làm rõ vấn đề này thì mới được giải quyết vấn đề xin ly hôn của chị D.
Ông T1 trình bày: ông nhất trí với quan điểm của bà H, ông không có ý kiến gì bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích D với anh Đỗ Mạnh T.
Về con chung: không có nên không đặt ra để giải quyết.
Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Mạnh T có nơi thường trú tại Thôn V, xã V, huyện M nên theo quy định của pháp luật yêu cầu giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình của chị Nguyễn Thị Bích D với anh Đỗ Mạnh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bích D và anh Đỗ Mạnh T: Anh, chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy bannhân dân xã V, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 05/01/2024 (đăng ký kết hôn số 02/2024) nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Qua lời khai của chị D, anh T và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định:
Quá trình chung sống anh, chị đã bắt đầu mâu thuẫn từ ngay sau khi kết hôn với nguyên nhân là do mâu thuẫn những chuyện lặt vặt trong sinh hoạt hàng ngày của vợ chồng anh T, chị D như: do ngủ ngáy, nấu cơm, rửa bát, ăn uống, hỗn láo với mẹ anh, chị D còn đập chiếc điện thoại mới mua của anh T... Đến ngày 18/02/2024, thì chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh, chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành. Quá trình giải quyết vụ án anh T đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị D đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng và không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Ngoài ra, anh T còn nộp cho Tòa án USB ghi lại những mâu thuân của vợ chồng anh dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đánh chửi nhau. Tại phiên tòa anh T đồng ý ly hôn chị D.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình chung sống giữa anh T, chị D có nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn từ ngày sau khi kết hôn, mâu thuẫn kéo dài do quan điểm sống không tương đồng nên thường xuyên cãi, đánh nhau từ những chuyện lặt vặt trong sinh hoạt, sống ly thân nhưng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị D xin được ly hôn anh T. Do vậy căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích D với anh Đỗ Mạnh T là phù hợp.
Đối với vấn đề anh T đề nghị Tòa án xem xét chị D vu oan, vu khống cho anh và gia đình anh, anh đề nghị Tòa án xác minh làm rõ để không vu oan cho người không có tội. Xét đây là một vụ án dân sự mà vấn đề anh T đề nghị được điều chỉnh trong Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét đề nghị của anh trong vụ án này. Nếu anh T có yêu cầu thì anh T có thể làm đơn đến cơ quan Công an có thẩm quyền để được xem xét và bảo vệ theo quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: vợ chồng anh, chị không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Chị D, anh T xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Bích D xin chịu cả là phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung: không có
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Bích D phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8672 ngày 25/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích D xin ly hôn anh Đỗ Mạnh T. Chị Nguyễn Thị Bích D được ly hôn anh Đỗ Mạnh T.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Bích D, anh Đỗ Mạnh T có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thịnh Quang Trung |
Bản án số 240/2024/HNGĐ - ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 240/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Bích D xin ly hôn anh Đỗ Mạnh T
