|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 240/2024/HS- ST
Ngày: 23/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Kiên.
Ông Nông Trung Kiên.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Trần Hồng Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 217/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn B; sinh năm: 1996, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản M, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn H; sinh năm 1974 (hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam N1, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên); Con bà: Lò Thị P; sinh năm 1977 (hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T1, thành phố Hà Nội); Vợ con chưa có; Nhân thân:
Ngày 26/4/2016 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục số: 21/QĐ-TA thời I Cơ sở giáo dục T2, B, Vĩnh Phúc. Ngày 26/11/2017 chấp hành xong trở về địa phương; Ngày 08/5/2018 Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục số: 09/QĐ-TA thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục T2, B, Vĩnh Phúc, đến ngày 25/5/2018 Cơ sở giáo dục T2 ra QĐ tạm đình chỉ chấp hành QĐ đưa vào CSGD số: 02, lý do phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Ngày 15/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt Quàng Văn B 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 187/2018/HSST. Ngày 25/11/2018 Bị cáo chấp hành xong trở về địa phương sinh sống. Bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 14/6/2022 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 26/7/2023 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích đối với bản án trên.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/7/2024 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
2. Bị hại: Chị Cầm Thị N; sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
3. Những người làm chứng gồm:
- - Chị Trần Thị C; sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
- - Anh Trần Khắc C1; sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
- - Ông Lò Văn L; sinh năm 1969; địa chỉ: Bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
- - Ông Lò Văn H1; sinh năm 1976; địa chỉ: Bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 25/6/2024, Quàng Văn B đi bộ một mình từ bia khu di tích lịch sử Hồ N, thuộc thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, để ra khu vực bờ sông N, với mục đích đi tìm tài sản có giá trị để trộm cắp. Khi đi đến gần cổng của bãi đất trống, thấy quán nước của chị Cầm Thị N, sinh năm 1993, nơi cư trú tại thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phía bên phải không có cổng, quan sát xung quanh không thấy người, Bị cáo đã đi vào bên trong quán, tìm tài sản có giá trị để trộm cắp. Khi đến gần bàn thờ thần tài đặt ở vị trí góc bên phải so với hướng nhìn vào trong quán sát với khu vực bếp nấu của quán, Bị cáo nhìn thấy có một thùng bìa carton đựng 24 lon nước giải khát nhãn hiệu Coca - Cola, loại 320ml còn nguyên vẹn chưa bị bóc, bên cạnh có một túi nilon màu trắng bên trong có 10 chiếc bánh đa nướng và trên bàn thờ thần tài có 02 tờ tiền Việt Nam đang lưu hành, một tờ mệnh giá 50.000 đồng và một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Bị cáo dùng hai tay bê thùng nước giải khát nhãn hiệu Coca - Cola, lấy túi nilon bên trong có bánh đa, rồi lấy tiếp 02 tờ tiền ở trên bàn thờ thần tài đút vào túi quần bên phải đang mặc. Sau đó Bị cáo đi ra ngoài theo đường cũ khi vào, rồi đi ra khu di tích lịch sử mà Bị cáo hay ngủ ngồi ăn bánh đa. Sau khi ăn xong, Bị cáo xé thùng bìa carton bên trong có các lon nước ngọt nhãn hiệu C2 - Cola ra, rồi uống hết 02 lon, còn lại 22 lon Bị cáo cho vào trong túi nilon màu vàng nhặt ở nơi Bị cáo hay ngủ.
Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 25/6/2024, Bị cáo xách túi nilon có các lon nước ngọt C2 - Cola đi bộ xuống khu vực Bản P, xã N, huyện Đ để bán. Khi đi đến quán C3 thuộc thôn B, xã N, Bị cáo thấy có hai vợ chồng là chị Trần Thị C, sinh năm: 1988 và Trần Khắc C1, sinh năm: 1981, cùng trú tại; Thôn Văn B1, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đang ở trong quán nên Bị cáo đi vào hỏi cả hai vợ chồng "Có mua Côca không?”, thì anh C1 trả lời là "Không", sau đó Bị cáo đi bộ xách túi nước ngọt C2 - C đi ngược lại vào trong bản Xôm, xã T, huyện Đ, đi vào quán bán tạp hóa gặp chủ quán là anh Lò Văn H1, sinh năm: 1976, nơi thường trú: Bản Xôm, xã T, huyện Đ. B1 hỏi "Có mua Côca không?" anh H1 hỏi lại "có nhiều không?", Bị cáo trả lời là "có hơn 20 lon?", H1 bảo "Không mua", nên Bị cáo tiếp tục đi sang quán bên cạnh, gặp anh Lò Văn L, sinh năm: 1969, nơi thường trú: Bản Xôm, xã T, huyện Đ, Bị cáo hỏi "có mua Côca không?" anh L trả lời "không". Bị cáo tiếp tục đi ra ngã ba bản Xôm, xã T thì gặp một người đàn ông Bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu đang đứng ở đó, Bị cáo hỏi "có mua Côca không?", người đàn ông đó bảo "bao nhiêu lon?" Bị cáo trả lời là "20 hai lon", người đàn ông đó bảo "có" rồi đưa cho Bị cáo số tiền 150.000 đồng, Bị cáo cầm lấy tiền rồi đưa túi nilon bên trong có 22 lon nước giải khát C2 - Cola cho người đàn ông đó. Có tiền Bị cáo đi ra khu vực bụi tre thuộc bản Xôm, xã T, huyện Đ lấy 50.000 đồng mua Heroine của một người đàn ông khoảng 30 tuổi dân tộc T (Bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu) để sử dụng cho bản thân. Sau đó Bị cáo đi về bia di tích lịch sử Hồng Cúm để ngủ, đến khoảng 11 giờ Bị cáo dậy và dùng số tiền trộm cắp được và tiền do bán tài sản trộm cắp để mua bánh kẹo, thuốc và tiêu xài cá nhân hết 150.000 đồng.
Đến ngày 30/6/2024, Bị cáo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ triệu tập lên làm việc Bị cáo đã khai nhận rõ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân ngày 25/6/2024 tại Thôn H, xã T, huyện Đ và tự nguyện giao nộp lại số tiền 20.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
Ngày 01/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ gửi yêu cầu định giá tài sản số: 1320/YCĐG-ĐCSHS đến Hội đồng định giá Tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Điện Biên theo đúng quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-ĐGTS, ngày 02/07/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Tổng cộng 02 khoản gồm: 01 thùng nước giải khát nhãn hiệu Coca - Cola bên trong có 24 lon, loại 320ml; 10 chiếc bánh đa nướng đường kính khoảng 30cm có trị giá là: 350.000 đồng.
Ngày 04/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ gửi Quyết định trưng cầu giám định số: 1125/QĐ-ĐCSHS, đến Phòng K Công an tỉnh Đ theo đúng quy định. Tại bản Kết luận giám định số: 1210/KL- KTHS, ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 20.000 đồng có số mã hiệu: XG 20858868 gửi giám định là tiền thật. Tổng cộng tài sản mà Quàng Văn B trộm cắp được là: 420.000 đồng.
Trong quá trình điều tra Bị cáo, Bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 159/CT-VKSĐB ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn B về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Cầm Thị N đã nhận lại số tiền 20.000 đồng thu giữ từ Bị cáo, chị N không yêu cầu Bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại. Đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về án phí: Căn cứ tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người bị hại; những người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 25/6/2024, tại quán bia của chị Cầm Thị N ở Thôn H, xã T, huyện Đ, Bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tiền và tài sản có tổng giá trị là 420.000 đồng, mục đích đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng. Bị cáo đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
[2] Về tính chất của vụ án:
Bị cáo Quàng Văn B lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tiền và tài sản có giá trị 420.000 đồng. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu lao động và làm ăn chân chính để nuôi sống bản thân mà thích sử dụng ma túy rồi dẫn đến phạm tội, nay phải chịu sự phán quyết của pháp luật. Hành vi của Quàng Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo là ít nghiêm trọng. Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Bản M, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12, nghỉ học ở nhà lao động cùng gia đình. Ngày 26/4/2016 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục số: 21/QĐ-TA thời hạn 20 tháng tại Cơ sở giáo dục T2, B, Vĩnh Phúc. Ngày 26/11/2017 chấp hành xong trở về địa phương; Ngày 08/5/2018 Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục số: 09/QĐ-TA thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục T2, B, Vĩnh Phúc, đến ngày 25/5/2018 Cơ sở giáo dục T2 ra QĐ tạm đình chỉ chấp hành QĐ đưa vào CSGD số: 02, lý do phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Ngày 15/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt Quàng Văn B 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 187/2018/HSST. Ngày 25/11/2018 Bị cáo chấp hành xong trở về địa phương sinh sống. Bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên. Tiền sự: Không. Bị cáo có 01 tiền án. Ngày 14/6/2022 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 26/7/2023 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích đối với bản án trên nên Bị cáo phải chịu tình tiết định tội theo điểm b khoản 1 Điều 173/BLHS.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo không có, không có thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
[5.1] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có số mã hiệu: XG 20858868 của Cơ quan Cảnh sát điều tra tra Công an huyện Đ cho chủ sở hữu là chị Cầm Thị N theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1231/QĐ - ĐCSHS ngày 30/7/2024.
[5.2] Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận về việc Bị hại không yêu cầu Bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại.
[6] Các vấn đề khác:
Bị cáo khai người đàn ông mua 22 lon Coca-Cola và người đàn ông bán ma túy cho Bị cáo, Bị cáo đều không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan Điều tra không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
[7.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7.2] Về sự vắng mặt của bị hại và những người làm chứng. Xét thấy Bị hại; những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Bị hại; những người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt Bị hại và những người làm chứng theo quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn B phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt Bị cáo: 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (02/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận đề nghị của Bị hại về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với Bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có số mã hiệu: XG 20858868 của Cơ quan Cảnh sát điều tra tra Công an huyện Đ cho chủ sở hữu là chị Cầm Thị N theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1231/QĐ - ĐCSHS ngày 30/7/2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/9/2024).
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 240/2024/HS- ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 240/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm tù
