|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 240/2024/HNGĐ-ST Ngày 23 – 7 - 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh ngày 12/8/1983. Địa chỉ cư trú: Số B, ngõ A, đường C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị xét xử vắng mặt.
– Bị đơn: Anh Trần Phi C, sinh ngày 02/11/1979. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Số B, ngõ A, đường C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: A K, London SW 19 3DL, Vương quốc A. Đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và lời khai ngày 08 tháng 5 năm 2024 chị Bùi Thị T trình bày: Chị T và anh Trần Phi C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 9 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Năm 2015 anh C xuất cảnh sang Vương quốc Anh làm việc hai người ít liên lạc với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Trần Phi C.
- Về nuôi con chung: Chị T và anh Trần Phi C có 02 con chung là cháu Trần Hải D, sinh ngày 26/8/2009 và cháu Trần Đức A, sinh ngày 13/6/2012, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Nay ly hôn nguyện vọng của chị T tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về phía anh Trần Phi C, tại Bản tự khai ngày 12 tháng 6 năm 2024, anh Trần Phi C đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án mà chị Bùi Thị T yêu cầu ly hôn như sau: Anh Trần Phi C thừa nhận, điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn; mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Bùi Thị T đã trình bày. Nay chị T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh C đồng ý.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hải D, sinh ngày 26/8/2009 và cháu Trần Đức A, sinh ngày 13/6/2012, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh C đồng ý để chị T nuôi dưỡng cháu và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Phi C hiện đang ở nước ngoài, điều kiện khó khăn không thể về Việt Nam tham gia phiên toà được nên đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Trần Thị Kim D1, sinh năm 1983; địa chỉ: Số B, đường P, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An giao nhận các văn bản liên quan.
Nguyện vọng của cháu Trần Hải D và cháu Trần Đức A tiếp tục được ở với mẹ để ổn định việc học tập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Phi C hiện đang ở nước ngoài không thể về nước để hoà giải và tham gia phiên toà được. Ngày 12 tháng 6 năm 2024, anh C đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt (có xác nhận của Đ tại L A và B). Đối với chị Bùi Thị T đã trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc trường hợp không hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, mặc dù chị Bùi Thị T vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Trần Phi C và nuôi 02 con chung chưa thành niên. Xét thấy, chị Bùi Thị T và anh Trần Phi C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 08 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Năm 2015 anh C xuất cảnh sang Vương quốc Anh làm việc hai người ít liên lạc với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay cả anh C và chị T đều xác định, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho ly hôn.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hải D, sinh ngày 26/8/2009 và cháu Trần Đức A, sinh ngày 13/6/2012, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án cả anh C và chị T đều thống nhất giao 02 cháu cho chị T nuôi dưỡng, do đó cần giao các con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh C đều thống nhất tự nguyện không yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chung chưa thành niên, anh Trần Phi C và chị Bùi Thị T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Anh Trần Phi C và chị Bùi Thị T đều thống nhất tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Phi C.
- Về con chung:
- Giao con 02 chung cháu Trần Hải D, sinh ngày 26/8/2009 và cháu Trần Đức A, sinh ngày 13/6/2012 cho chị Bùi Thị T nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị T chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chung chưa thành niên, anh Trần Phi C và chị Bùi Thị T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Trần Phi C và chị Bùi Thị T đều thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012888 ngày 04/6/2023.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Bùi Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
- Anh Trần Phi C đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |
Bản án số 240/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 240/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp ly hôn
