Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc

Bản án số: 240/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vỵ.
  2. Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 205/2024/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

- Trần Công Đ (Tên gọi khác: B), sinh ngày 20 tháng 5 năm 1998, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Thanh L1, sinh năm 1974; vợ: Văn Thị Ly L2, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: Có 01 người con, sinh năm 2018; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình.

Về nhân thân:

- Ngày 20/8/2020, bị TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 47/2020/HSST ngày 20/8/2020).

Trong thời gian thử thách Trần Công Đ vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự nên đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình ra Quyết định buộc Trần Công Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo trước đó (Bản án số 47/2020/HSST ngày 20/8/2020) thành 09 (chín) tháng tù giam (Quyết định số 01 ngày 26/01/2021).

1

- Ngày 29/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù (Giấy chứng nhận số 09/GCN) trở về địa phương sinh sống cho đến tháng 6 năm 2022 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Tiền án: Có 01 tiền án (Bản án số 47/2020/HSST);

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã - tạm giam từ ngày 15/6/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Anh Cao Hữu T, sinh năm 1989; Nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở hiện nay: E Hồ Đ, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thanh L1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Lê Thị Hiền A, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ G, KV4, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  2. Anh Hồ Văn T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1993; Nơi cư trú: B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  4. Bà Đoàn Thị Kim H, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ G, KV4, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  5. Chị Phạm Hoàng Hạ M, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Lô A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn C, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  7. Chị Lê Thanh Thanh Nguyên T2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ G, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Công Đ và anh Cao Hữu T có mối quan hệ quen biết với nhau. Vào năm 2020, bạn gái của anh Cao Hữu T là Lê Thanh Thanh Nguyên T2 (bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tháng 3/2020, T2 chấp hành án tại Trại giam B1 - Bộ C.

Vào khoảng tháng 5/2022, trong một lần anh Cao Hữu T và Trần Công Đ (cùng với người nhà của bạn gái anh T) đi đến thăm gặp T2 - bạn gái của anh T tại Trại giam B1. Trong thời gian trò chuyện, Trần Công Đ đưa ra thông tin sai sự thật, là giả vờ nói với anh Cao Hữu T là Đ hiện đang công tác tại Đội ma túy Công an thành

2

phố H, có quen biết một số người trong các cơ quan pháp luật (Tòa án, Viện kiểm sát và Công an) có thể quan hệ để xin giảm án cho T2 về trong dịp tết Nguyên đán năm 2023. Nghe Trần Công Đ nói vậy, anh Cao Hữu T tưởng thật nên nhờ Đ giúp cho T2 trong việc xin giảm án. Lợi dụng sự tin tưởng của anh T, nên trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 năm 2022 cho đến khoảng đầu tháng 7 năm 2022, Trần Công Đ nhiều lần dùng nhiều thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Cao Hữu T, cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Vào ngày 15/6/2022, Trần Công Đ gọi điện yêu cầu anh T đưa số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để lo chi phí, quan hệ với Viện kiểm sát nhân dân xin giảm án cho T2. Nghe vậy, anh T tưởng thật nên đã chuyển vào tài khoản cho Trần Công Đ số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Sau đó, Đ dùng tiêu xài cá nhân.
  • Lần thứ hai: Vào khoảng 8 giờ 00 phút một ngày trong tháng 6/2022 (không nhớ rõ ngày - khoảng một tuần sau lần thứ nhất), Trần Công Đ gọi điện yêu cầu anh T đưa số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để lo chi phí, quan hệ với Tòa án nhân dân xin giảm án cho T2. Anh T tưởng thật nên đồng ý. Sau đó, Trần Công Đ đi đến gặp anh T, tại địa chỉ số E đường M, phường T, thành phố H. Tại đây, anh T đã đưa cho Đ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Đ dùng tiêu xài cá nhân.
  • Lần thứ ba: Vào khoảng 8 giờ 00 phút, một ngày trong tháng 6/2022 (không nhớ rõ ngày), Trần Công Đ gọi điện yêu cầu anh T đưa số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để lo chi phí, quan hệ với Công an phường A, thành phố H xin xác nhận hộ khẩu cho T2 để xin giảm án. Anh T tưởng thật, nên đã đưa cho Đ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) đồng, tại địa chỉ số F M, phường T, thành phố H. Sau khi chiếm đoạt được tiền, Đ sử dụng tiền tiêu xài cá nhân.
  • Lần thứ tư: Vào ngày 21/6/2022, Trần Công Đ gọi điện cho anh T yêu cầu đưa số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) để làm giấy tờ xin giảm án cho T2. Nghe vậy, anh T tưởng thật nên trong ngày đã chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng); và trực tiếp đưa bằng tiền mặt cho Đ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) theo yêu cầu của Đ, tại số F M, phường T, thành phố H. Sau khi chiếm đoạt tiền, Đ sử dụng tiền tiêu xài cá nhân.
  • Lần thứ năm: Vào một ngày khoảng đầu tháng 7/2022 (không nhớ rõ ngày), Trần Công Đ gọi điện cho anh T yêu cầu đưa số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) để lo chi phí, quan hệ với Trại giam B1 xin giảm án cho T2. Nghe vậy, anh T tưởng thật nên trong ngày anh T đã trực tiếp đưa tiền mặt cho Đ 02 (hai) lượt (lượt thứ nhất anh T đưa cho Đ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tại E M, phường T, thành phố H; lượt thứ hai anh T đưa cho Đ số tiền 15.000.000 đồng

3

(mười lăm triệu đồng), tại địa chỉ số E Hồ Đ, phường A, thành phố H). Sau khi chiếm đoạt được tiền, Đ dùng tiêu xài cá nhân.

Tổng cộng số tiền mà Trần Công Đ đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Cao Hữu T là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).

Anh Cao Hữu T sau khi biết được Trần Công Đ dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đến ngày 10/12/2022, đã có đơn tố giác toàn bộ hành vi của Trần Công Đ đến Cơ quan Công an đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Công Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng vụ án tạm giữ gồm:

  • 09 (chín) tờ giấy A4 thể hiện nội dụng liên quan đến giao dịch chuyển tiền qua tài khoản giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp);
  • 32 (ba mươi hai) tờ giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Zalo giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp).

* Về xử lý vật chứng: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Cao Hữu T yêu cầu bị cáo Trần Công Đ trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Trong giai đoạn truy tố, bị cáo Đ đã tác động đến gia đình khắc phục cho bị hại được số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định trong thời gian trên do tin tưởng, cả nể nên anh Cao Hữu T nhiều lần tự nguyện cho Trần Công Đ mượn tiền tổng cộng 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), đến nay Trần Công Đ chưa trả cho anh T. Xác định đây là quan hệ giao dịch dân sự, Trần Công Đ không có ý thức chiếm đoạt nên không có căn cứ để xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần Công Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 229/CT-VKSTPH ngày 22 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Trần Công Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần Công Đ từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù;

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 09 (chín) tờ giấy A4 thể hiện nội dụng liên quan đến giao dịch chuyển tiền qua tài khoản giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ (do anh T

4

giao nộp) và 32 (ba mươi hai) tờ giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Zalo giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp) tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Công Đ đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh được số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Anh T yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 110.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Trần Công Đ phải bồi thường cho anh Cao Hữu T số tiền còn lại là 110.000.000 đồng(Một trăm mười một triệu đồng) là tiền mà bị cáo Đ đã chiếm đoạt.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định trong thời gian trên do tin tưởng, cả nể nên anh Cao Hữu T nhiều lần tự nguyện cho Trần Công Đ mượn tiền tổng cộng 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), đến nay Trần Công Đ chưa trả cho anh T. Xác định đây là quan hệ giao dịch dân sự, Trần Công Đ không có ý thức chiếm đoạt nên không có căn cứ để xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

* Về án phí dân sự sơ thẩm: 110.000.000 đồng x 5% = 5.500.000 đồng và Buộc bị cáo Đ phải chịu là 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội cuả bị cáo: Tại phiên toà, Trần Công Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa. Do đó có cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 năm 2022 cho đến khoảng đầu tháng 7 năm 2022, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Công Đ

5

đã nhiều lần (05 lần) dùng nhiều thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Cao Hữu T với tổng số tiền là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) dùng để tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của Trần Công Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài không chính đáng và không bằng sức lao động của mình nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại các điểm g,h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nhưng quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khắc phục bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo và trở thành một công dân tốt và có ích cho xã hội như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là đúng căn cứ theo quy định của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 09 (chín) tờ giấy A4 thể hiện nội dụng liên quan đến giao dịch chuyển tiền qua tài khoản giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp) và 32 (ba mươi hai) tờ giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Zalo giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp) tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Cao Hữu T yêu cầu bị cáo Trần Công Đ phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 110.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh Cao Hữu T là chính đáng nên cần buộc bị cáo Trần Công Đ phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 110.000.000 đồng cho anh Cao Hữu T.

- Đối với số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), trong quá trình điều tra xác định trong thời gian trên do tin tưởng, cả nể nên anh Cao Hữu T nhiều lần tự nguyện cho Trần Công Đ mượn tiền tổng cộng 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), đến nay Trần Công Đ chưa trả cho anh T. Xác định đây là quan hệ giao dịch dân sự, Trần Công Đ không có ý thức chiếm đoạt, không có căn cứ để xử lý

6

hình sự theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: 110.000.000 đồng x 5% = 5.500.000 đồng và Buộc bị cáo Đ phải chịu là 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Trần Công Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    - Xử phạt bị cáo Trần Công Đ 04(Bốn) năm 06(sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 09 (chín) tờ giấy A4 thể hiện nội dụng liên quan đến giao dịch chuyển tiền qua tài khoản giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp) và 32 (ba mươi hai) tờ giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Zalo giữa bị hại Cao Hữu T và bị cáo Trần Công Đ liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Công Đ (do anh T giao nộp).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;

    Buộc bị cáo Trần Công Đ phải bồi thường cho anh Cao Hữu T số tiền 110.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326 /2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp và quản lý sử dụng Buộc bị cáo Trần Công Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân

7

sự sơ thẩm.

  1. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - VKSND TP Huế;
  • - CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; NLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hương Lan

8

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 240/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger