|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 240/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà
Bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian phiên tòa số 07/TB-TA ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 08/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người được nguyên đơn ủy quyền về việc giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: Anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 1993, địa chỉ: Số E N, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1987; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm F, thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu M, và bà Nguyễn Thị T, đều cư trú tại: Xóm F, thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 30/12/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ chồng. Năm 2017 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, còn chị đang có thai nên ở lại Việt Nam. Sau khi sinh con, chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương sinh sống. Từ khi sống xa nhau, giữa chị và anh C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, mỗi lần nói chuyện đều xảy ra cãi vã. Từ đó, vợ chồng chị sống ly thân, không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Anh C thỉnh thoảng về nước nhưng vợ chồng chị không gặp nhau. Mặc dù vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 10/10/2017, hiện cháu đang ở cùng ông bà nội. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu T1 cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời gian anh C ở nước ngoài, chị đề nghị Tòa án giao cháu T1 cho ông bà nội là ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng cho đến khi anh C về nước. Chị tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh C là 1.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị H không cung cấp được địa chỉ của anh C ở Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh C. Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị T (là bố, mẹ đẻ của anh Nguyễn Hữu C) trình bày: Ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh C ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh C vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh C biết. Quan điểm của anh C là do vợ chồng không còn tình cảm nên chị H có đơn xin ly hôn, anh C đồng ý. Về con chung: Anh C xác định vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày. Khi ly hôn, anh C xin được nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh. Trong thời gian ở nước ngoài, anh C nhờ ông bà chăm sóc cháu T1 cho đến khi anh về nước, ông bà nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị H, ông M, bà T vắng mặt, có đơn và quan điểm xin vắng mặt. Anh C vắng mặt không có lý do.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu C. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 10/10/2017 cho chị C nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh C là 1.000.000đ/1 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tạm giao cháu T1 cho ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị T chăm sóc trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Nguyễn Hữu C hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh C tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh C cung cấp địa chỉ, nhưng chị H và gia đình anh C không cung cấp được. Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ đẻ anh C xác định anh C vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, chị H có đơn xin ly hôn, anh C đã biết nhưng anh C không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
3
[1.3] Tại phiên tòa, chị H, ông M, bà T vắng mặt, có đơn và quan điểm xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Hữu C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 30/12/2016 nên là hôn nhân hợp pháp. Năm 2017, anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ khi sống xa nhau, chị H và anh C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay chị H và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H có đơn xin ly hôn, anh C đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị H được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 10/10/2017, hiện đang ở cùng ông bà nội là Nguyễn Hữu M và Nguyễn Thị T. Khi ly hôn, chị H và anh C thống nhất giao con chung cho anh C nuôi dưỡng. Trong thời gian ở nước ngoài, anh C ủy quyền cho ông M, bà T (là bố mẹ đẻ) nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 cho đến khi anh C về Việt Nam, ông M, bà T đồng ý. Xét thấy, cháu T1 đang sinh sống ổn định cùng anh C và ông bà nội, do vậy, cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh C nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm giao cháu T1 cho ông M, bà T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh C về Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 1.000.000 đồng/1 tháng, thời điểm cấp dưỡng từ tháng 7/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227,
Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về các vấn đề sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Hữu C.
1.2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hữu C được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 10/10/2017 kể từ tháng 07/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu T1 cho ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam. Chị H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con là 1.000.000đ/1 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 7/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày anh C có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu chị H chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) do anh Nguyễn Sỹ A nộp thay, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000488 ngày 27/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí.
Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con. (Chị H chưa nộp).
4. Về quyền kháng cáo: Chị H, ông M, bà T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
5
bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Hải Dương;
- - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- - UBND xã Hồng Phong, huyện Nam Sách (để ghi vào sổ hộ tịch);
- - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |
6
Bản án số 240/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 240/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thúy H xin ly hôn anh Nguyễn Hữu C
