|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 240/2023/DS-PT Ngày 21 - 12 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán:
Ông Trần Bá Kha
Bà Trần Thị Chọn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 238/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Kim H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số nhà B, tổ A, ấp R, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn:
- Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Huỳnh Thanh Q, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp H, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q: Chị Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1987; địa chỉ: Lô A Khu Đô thị M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Thành S1, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh S1: Chị Thái Kim H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, ấp R, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Thái Kim H trình bày và yêu cầu như sau:
Do cần tiền để đáo hạn Ngân hàng nên chị Nguyễn Thị B có vay của chị số tiền các lần như sau:
- Lần 1: vào ngày 18/7/2022 vay số tiền 900.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng.
- Lần 2: vào ngày 25/7/2022 vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng.
- Lần 3: vào ngày 18/8/2022 vay số tiền 1.150.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng.
- Lần 4: vào ngày 29/8/2022 vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng.
Tổng số tiền chị B vay là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng). Những lần vay tiền trên chị B đều hẹn từ 05 đến 10 ngày sẽ thanh toán tiền gốc và tiền lãi nhưng chị B không thực hiện việc trả nợ đúng như thỏa thuận.
Do cần rút lại vốn chị đã nhiều lần yêu cầu chị B trả lại số tiền vay trên nhưng chị B cứ hẹn không chịu trả. Từ sau ngày 28/11/2022 chị B không có đóng lãi. Từ số tiền trên chị B có tạo ra thu nhập góp phần vào việc chi tiêu, làm ăn, kinh tế gia đình của chị B.
Nay chị yêu cầu chị Nguyễn Thị B cùng chồng là anh Huỳnh Thanh Q phải trả số tiền gốc là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo thoả thuận khi vay tiền, thời gian tính lãi kể từ ngày cho vay trên từng khoản tiền đến khi chị B, anh Q trả hết nợ.
Tại biên bản hoà giải ngày 23/5/2023 chị và bà B có thoả thuận được việc cấn trừ số tiền lãi mà bà đã nhận của chị B là 768.975.000đ (Bảy trăm sáu mươi tám triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và tiền hùn vốn cả gốc và lãi là 417.850.000đ (Bốn trăm mười bảy triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) vào số tiền nợ gốc 2.600.000.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật.
Số tiền lãi tính từ ngày cho vay trên từng khoản tiền vay đến ngày 25/7/2023 với số tiền lãi là 490.191.000 đồng.
Sau khi thực hiện cấn trừ tiền lãi bà đã nhận là 768.975.000 đồng, tiền hùn vốn cả gốc và lãi là 417.850.000 đồng thì số tiền nợ bà B có nợ lại là 1.903.366.000 đồng (Một tỷ chín trăm lẻ ba triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Ngày 25/7/2023 chị có thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, chị yêu cầu chị B, anh Q phải trả cho chị số tiền nợ là 1.903.366.000 đồng (Một tỷ
chín trăm lẻ ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 26/7/2023 cho đến khi chị B, anh Q trả hết tiền nợ.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Trước đây chị và chị Thái Kim H có quan hệ làm ăn chung với nhau nhiều lần, do chị đi làm có nhiều mối quan hệ làm ăn nên chị H mới đưa tiền nhờ chị cho vay dùm, ban đầu chị H có đưa cho chị số tiền 200.000.000 đồng để giúp chị H cho người khác vay, cầm cố. Số tiền 200.000.000 đồng này chị cũng đã thu hồi về và trả cho chị H đúng hạn.
Thời gian sau chị H tiếp tục nhờ chị cho vay dùm, trong thời gian đầu năm 2022 chị có cho anh Văn Vũ P vay nhiều lần tiền, sau đó anh P có nhu cầu vay thêm nên chị mới thông báo cho chị H biết và chị H có đưa tiền cho chị để cho anh P vay, chị H đưa cho bà 0 lần tiền với tổng số tiền là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng), toàn bộ số tiền 2.600.000.000 đồng chị đã đưa cho anh Văn Vũ P vay, chị H cũng biết anh P là người vay số tiền này.
Khi chị H đưa tiền cho chị có nói lấy lãi cụ thể là đối với số tiền 900.000.000 đồng tiền lãi là 200.000 đồng/ngày/100.000.000 đồng, đối với số tiền còn lại tiền lãi là 250.000 đồng/ngày/100.000.000 đồng. Chị đã đưa tiền lãi cho chị H đầy đủ, số tiền lãi chị đã đưa cho chị H từ ngày 25/7/2022 đến ngày 28/11/2022 là 768.975.000đ (B1 trăm sáu mươi tám triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Đến tháng 12/2022 phía anh P không thực hiện việc trả tiền lãi và gốc đã vay nên chị đã tố giác với Công an thành phố H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hiện tại vụ việc đang được Công an thành phố H xem xét giải quyết và hiện tại hồ sơ đã được chuyển lên Công an tỉnh K giải quyết theo thẩm quyền.
Nay chị H yêu cầu chị trả số tiền nợ gốc 2.600.000.000 đồng, chị thừa nhận số tiền này bà vay của chị H để cho anh P vay lại nên chị đồng ý trả cho chị H, chị xin thời gian khi nào chị thu hồi được tiền từ anh P sẽ trả lại số tiền gốc 2.600.000.000 đồng cho chị H.
Ngoài ra, giữa chị, chị H và anh Lưu T Sái có hợp đồng góp vốn với nhau để lấy tiền cho người khác vay thế chấp. Cụ thể:
- Hợp đồng góp vốn ngày 06/11/2021 với số tiền góp 600.000.000 đồng, trong đó chị góp 100.000.000 đồng, chị H góp 100.000.000 đồng, anh S1 góp 400.000.000 đồng. Phần tiền lãi anh S1, chị H nhận 3%/tháng trên số tiền 500.000.000 đồng, còn phần lãi của chị thì chị thoả thuận là 3,5%/tháng, cả 03 người thống nhất để anh S1 đại diện đứng tên hợp đồng thế chấp. Đối với hợp đồng góp vốn này, anh S1 và chị H đã làm thủ tục xử lý tài sản thế chấp (chuyển nhượng sang tên đất) nên chị yêu cầu được nhận lại số tiền góp là 100.000.000 đồng, số tiền lãi chị không yêu cầu xem xét mà chị và chị H, anh S1 sẽ tự xử lý.
- Hợp đồng góp vốn ngày 11/01/2022 với số tiền 900.000.000 đồng, trong đó chị góp 300.000.000 đồng, chị H góp 200.000.000 đồng, anh S1 góp
400.000.000 đồng, lãi suất cũng giống như phần góp vốn ngày 06/11/2021 và cũng thống nhất để anh S1 đại diện đứng tên hợp đồng thế chấp. Đối với hợp đồng góp vốn này chị yêu cầu được nhận lại số tiền góp là 300.000.000 đồng và số tiền lãi chị H đang giữ là 17.850.000 đồng.
Theo đó, ngày 14/4/2023 chị có yêu cầu phản tố, yêu cầu được cấn trừ số tiền lãi chị đã đưa cho chị H trước đó là 768.975.000 đồng vào số tiền nợ gốc của chị H là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng) và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Về lãi suất chị yêu cầu tính lại lãi suất theo quy định của nhà nước. Đối với số tiền góp vốn, bà yêu cầu chị H, anh S1 trả lại số tiền góp vốn là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi chị H đang giữ là 17.850.000 đồng, chị yêu cầu được cấn trừ số tiền góp vốn cả gốc và lãi là 417.850.000 đồng vào số tiền nợ của chị H gồm nợ gốc 2.600.000.000 đồng và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản hoà giải ngày 23/5/2023, chị và chị H có thoả thuận được việc cấn trừ các khoản tiền gồm số tiền lãi mà chị H đã nhận của chị là 768.975.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi tám triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), tiền hùn vốn gốc 400.000.000 đồng và tiền lãi 17.850.000 đồng, tổng cộng là 1.186.825.000 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi sáu triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng), vào số tiền nợ gốc 2.600.000.000 đồng và tiền lãi tính theo định của pháp luật. Theo đó, ngày 23/7/2023 chị có đơn xin rút yêu cầu phản tố.
* Ý kiến của của chị Thái Kim H đối với yêu cầu phản tố:
Đối với các khoản tiền góp vốn, giữa chị và anh S1, chị B có lập hợp đồng góp vốn với nhau để cho vay thế chấp. Cụ thể:
- Ngày 06/11/2021, sau khi được chị B chia sẻ về người tên Văn Vũ P đang cần vốn để xoay sở với số tiền là 600.000.000 đồng, tài sản được sử dụng để đảm bảo giao dịch là thửa đất tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 309328 diện tích 198,6m² do UBND thành phố H cấp ngày 10/9/2019. Sau khi đi xem xét thực địa, kiểm tra giấy tờ có liên quan đến tài sản, chị cùng anh S1, chị B đã ký hợp đồng góp vốn 600.000.000 đồng, trong đó chị góp 100.000.000 đồng, chị B góp 100.000.000 đồng, anh S1 góp 400.000.000 đồng. Về lãi suất là do chị B thương lượng với ông P, sau đó chị B giao tiền lãi như thoả thuận là 3%/tháng cho chị và anh S1 trên số tiền góp vốn của mỗi người. Anh S1 đã nhận tiền lãi từ khi cho anh P vay đến hết tháng 12/2022. Từ sau tháng 01/2023 đến tháng 04/2023 số tiền lãi là do chị thu, số tiền lãi chia cho chị B là 14.000.000 đồng, số tiền lãi này chị còn đang giữ. Số tiền góp vốn 600.000.000 đồng cho anh P vay đến nay về chưa thu hồi vốn được. Tuy nhiên, chị đồng ý trả lại cho chị B số tiền góp vốn 100.000.000 đồng và cấn trừ vào số tiền nợ gốc và lãi mà chị B còn nợ chị
- Ngày 11/01/2022, chị B tiếp tục liên lạc với chị và anh S1 để cung cấp việc anh P cần vay số tiền 900.000.000 đồng, tài sản được sử dụng để đảm bảo giao dịch là căn nhà tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (kể cả quyền sử dụng thửa đất gắn liền với căn nhà) theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CY 626880, svs CS 166380 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 08/02/2021. Sau khi chị và anh S1 đi xác minh thực địa căn nhà và đất, kiểm tra giấy tờ có liên quan đến tài sản thì chị cùng anh S1, chị B đã ký hợp đồng góp vốn 900.000.000 đồng, trong đó chị góp 200.000.000 đồng, chị B góp 300.000.000 đồng, anh S1 góp 400.000.000 đồng. Về phần lãi suất và thu tiền lãi vẫn do chị B chịu trách nhiệm và đưa cho chị để giao lại cho anh S1. Chị B thu lãi từ khi cho vay đến tháng 12/2022. Từ tháng 01/2023 tiền lãi do chị thu. Đến ngày 03/3/2023 anh P đã thanh toán luôn cả tiền gốc 900.000.000 đồng. Mọi vấn đề liên quan đến việc vay, bao gồm tiền gốc, lãi suất và các chi phí phát sinh đều được hoàn tất dứt điểm vào ngày 03/3/2023 (anh P có ký xác nhận). Số tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 17.850.000 đồng chia cho chị B thì chị còn đang giữ. Chị đồng ý cấn trừ số tiền 317.850.000 đồng vào số tiền nợ gốc và lãi mà chị B còn nợ chị.
Đối với số tiền lãi chị B chuyển khoản cho chị thì chị thừa nhận có nhận là 768.975.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi tám triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Chị đồng ý cấn trừ số tiền này vào số tiền nợ của chị B.
Bị đơn anh Huỳnh Thành Q1 trình bày:
Việc chị H và vợ anh là bà B có làm ăn chung, qua lại tiền bạc ra sao thì anh chưa từng biết đến, cũng không nghe chị B nói và chị H cũng không có thông báo cho anh chuyện tiền bạc làm ăn với chị B. Các giấy tờ biên nhận vay tiền, giấy nhận nợ đều không có chữ ký, dấu vân tay của anh. Do đó, việc chị H cho rằng anh có trách nhiệm liên đới với vợ anh là chị B để trả nợ cho chị H là hoàn toàn không có căn cứ và cũng không có căn cứ nào để chứng minh buộc anh phải liên đới với chị B trả nợ cho chị H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Thành S1 trình bày:
Vào ngày 06/11/2021 sau khi được chị B chia sẻ về người tên Văn Vũ P đang cần vốn để xoay sở với số tiền là 600.000.000 đồng, tài sản được sử dụng để đảm bảo giao dịch là thửa đất toạ lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 309328 diện tích 198,6m² do UBND thành phố H cấp ngày 10/9/2019. Sau khi chị và chị H đi xác minh thực địa căn nhà và đất, kiểm tra giấy tờ có liên quan đến tài sản thì ông cùng chị H, chị B đã ký hợp đồng góp vốn 900.000.000 đồng, trong đó anh góp 400.000.000 đồng, chị B góp 300.000.000 đồng, chị H góp 200.000.000 đồng. Số tiền góp vốn 600.000.000 đồng cho anh P vay đến nay chưa thu hồi vốn được. Tuy nhiên, chị đồng ý trả lại cho chị B số tiền góp vốn 100.000.000 đồng và thống nhất việc chị H cho chị B cấn trừ vào số tiền nợ gốc và lãi mà chị B còn nợ chị H.
Ngày 11/01/2022, chị B tiếp tục liên lạc với anh và chị H để cung cấp việc anh P cần vay số tiền 900.000.000 đồng, tài sản được sử dụng để đảm bảo giao dịch là căn nhà tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (kể cả quyền sử dụng thửa đất gắn liền với căn nhà) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 626880, svs CS 166380 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 08/02/2021. Sau khi anh và chị H đi xác minh thực địa căn nhà và đất,
kiểm tra giấy tờ có liên quan đến tài sản thì anh cùng chị H, chị B đã ký hợp đồng góp vốn 900.000.000 đồng, trong đó anh góp 400.000.000 đồng, chị B góp 300.000.000 đồng, chị H góp 200.000.000 đồng. Đến ngày 03/3/2023 anh P đã thanh toán luôn cả tiền gốc 900.000.000 đồng. Mọi vấn đề liên quan đến việc vay, bao gồm tiền gốc, lãi suất và các chi phí phát sinh đều được hoàn tất dứt điểm vào ngày 03/3/2023.
Nội dung chị H và chị B đã thoả thuận được: Số tiền lãi chị H đã nhận của chị B là 768.975.000 đồng. Số tiền hùn vốn gốc và lãi chị H và anh S1 đồng ý hoàn trả cho chị H là 417.850.000 đồng. Số tiền lãi tính theo quy định của pháp luật từ ngày cho vay trên từng khoản tiền vay đến ngày 25/7/2023 là 490.191.000 đồng. Chị H đồng ý cấn trừ số tiền lãi 768.975.000 đồng, tiền hùn vốn gốc và lãi là 417.850.000đ vào số tiền gốc 2.600.000.000 đồng và tiền lãi 490.191.000 đồng. Theo đó, chị H và chị B thống nhất số tiền nợ chị B còn nợ lại chị H sau khi cấn trừ là 1.903.366.000 đồng (Một tỷ chín trăm lẻ ba triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Áp dụng các Điều 463, 465, 466, 468, 504, 507, 510 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Buộc Chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q phải có nghĩa vụ trả cho chị Thái Kim H số tiền nợ là 1.933.210.779 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươi ba triệu hai trăm mười nghìn bảy trăm bảy mươi chín đồng), trong đó tiền nợ sau khi cấn trừ là 1.903.366.000 đồng và tiền lãi là 29.844.779 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị B.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 10/10/2023, bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q có đơn kháng cáo trong hạn luật định với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện
Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo hướng tính lại mức lãi suất theo quy định của pháp luật và anh Huỳnh Thanh Q không có nghĩa vụ liên đới cùng với chị B trả nợ cho chị Thái Kim H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương theo hướng tính lại mức lãi suất theo quy định của pháp luật là 20%/năm và anh Huỳnh Thanh Q không có nghĩa vụ liên đới cùng chị Nguyễn Thị B phải trả nợ cho chị Thái Kim H.
- Phía nguyên đơn chị Thái Kim H đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của chị B về việc yêu cầu cấp phúc thẩm tính lại mức lãi suất là 20%/năm đối với số tiền 1.903.366.000 đồng. Về trách nhiệm trả nợ bà H yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm buộc anh Q có trách nhiệm cùng với chị B trả nợ cho chị H như Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo hướng ghi nhận sự tự nguyện tính lại mức lãi suất là 20%/năm đối với số tiền 1.903.366.000 đồng, còn các nội dung khác vẫn giữ nguyên theo án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của chị Thái Kim H yêu cầu chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q phải trả số tiền nợ là 1.903.366.000 đồng (một tỷ chín trăm lẻ ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Nhận thấy, chị H và chị B có thỏa thuận vay tài sản, theo đó chị H đã giao tài sản là tiền cho chị B nhiều lần với tổng số tiền là 2.600.000.000 đồng và có thoả thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, phía chị B sau khi nhận tài sản là tiền của chị H nhưng đến hạn trả nợ chị B lại không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền cho bên cho vay là chị H, theo đó chị B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Nay chị H có yêu cầu chị B trả số tiền nợ vay thì chị B phải có nghĩa vụ trả nợ vay theo quy định tại các Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và chị B đã thỏa thuận được số tiền lãi chị B đã giao cho chị H là 768.975.000đ (B1 trăm sáu mươi tám triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và chị H cũng thống nhất đồng ý cấn trừ số tiền lãi 768.975.000 đồng vào tiền nợ gốc 2.600.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Số tiền lãi phát sinh chị B và chị H đã thống nhất tính theo lãi suất quy định của pháp luật, thời gian tính lãi kể từ ngày cho vay trên từng khoản tiền đến ngày 25/7/2023 với số tiền lãi là 490.191.000 đồng. Như vậy, tiền nợ gốc và lãi tổng cộng là 3.090.191.000 đồng, cấn trừ số tiền lãi là 768.975.000 đồng, số nợ còn lại chị B còn nợ chị H là 2.321.216.000 đồng (Hai tỷ ba trăm hai mươi mốt triệu hai trăm mười sáu nghìn đồng).
[2.2] Ngoài ra, phía chị H, chị B, anh S1 có thỏa thuận giao kết hai hợp đồng hợp tác dưới hình thức hợp đồng góp vốn, các bên cùng đóng góp tài sản của mình là tiền và thống nhất giao tài sản đó cho chị B để giao dịch với anh Văn Vũ P, trong đó tài sản chị B đóng góp là số tiền 400.000.000 đồng, chị H góp 300.000.000 đồng, anh S1 góp 800.000.000 đồng. Phía chị B xin rút khỏi hợp đồng hợp tác và xin nhận lại tài sản góp vốn, phía chị H và anh S1 đồng ý hoàn trả lại cho chị B số tiền vốn góp 400.000.000 đồng và tiền lợi tức 17.850.000 đồng, tổng cộng là 417.850.000 đồng. Sự thỏa thuận này của các đương sự phù hợp với quy định tại các Điều 503, 507 và 510 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Theo đó chị H có trách nhiệm trả lại cho chị B số tiền bà đang giữ gồm số tiền góp vốn và lợi tức phát sinh của hợp đồng góp vốn ngày 11/01/2022 với tổng số tiền là 317.850.000 đồng; Anh S1 và chị H có trách nhiệm hoàn trả cho chị B số tiền góp vốn của hợp đồng ngày 06/11/2021 với số tiền là 100.000.000 đồng. Anh S1 đồng ý cho chị B cấn trừ số tiền 100.000.000 đồng vào số tiền nợ mà chị B còn nợ chị H.
[2.3] Chị B yêu cầu được cấn trừ số tiền 417.850.000 đồng vào số tiền nợ mà chị B còn nợ chị H và phía chị H đồng ý cấn trừ số tiền 417.850.000 đồng vào số nợ 2.321.216.000 đồng (Hai tỷ ba trăm hai mươi mốt triệu hai trăm mười sáu nghìn đồng). Theo đó, số tiền nợ chị B còn nợ chị H là 1.903.366.000 đồng (Một tỷ chín trăm lẻ ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
[2.4 ] Đối với yêu cầu của chị H yêu cầu chị B, anh Q tiếp tục trả lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 26/7/2023 cho đến khi chị B, anh Q trả hết tiền nợ. Xét thấy, giữa chị H và chị B đã thực hiện giao dịch vay tài sản, khi cho vay hai bên có thoả thuận việc trả lãi và lãi suất, các bên đều thống nhất lãi suất tính theo
quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại tính mức lãi suất là 20,04%/ năm (do làm tròn số) và cấp sơ thẩm tính như sau (1,67%/tháng và 0,056%/ngày). Thời gian tính lãi từ ngày 26/7/2023 đến ngày xét xử 22/8/2023 là 28 ngày, số tiền lãi là (1.903.366.000₫ x 0,056% x 28 ngày) = 29.844.779 đồng và cấp sơ thẩm buộc tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi phía bà B, ông Q phải trả cho chị H là 1.933.210.779 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươi ba triệu hai trăm mười nghìn bảy trăm bảy mươi chín đồng), trong đó tiền nợ sau khi cấn trừ là 1.903.366.000 đồng vã tiền lãi là 29.844.779 đồng.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị H đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của chị B, anh Quảng t lại mức lãi suất đối với số tiền 1.903.366.000 đồng là 20%/năm. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm và được tính lãi lại như sau:
(20%/năm : 12 tháng = 1,66%/tháng: 30 ngày = 0,055%/ngày).
Thời gian tính lãi từ ngày 26/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 22/8/2023 bằng 28 ngày. Như vậy, 1.903.366.000 đồng tiền gốc x 0,055% x 28 ngày = 29.311.836 đồng. Tổng cộng gốc lãi = 1.932.667.836 đồng
[3] Xét nội dung kháng cáo:
Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu cấp phúc thẩm tính lại mức lãi suất 20%/năm đối với số tiền 490.191.000đ là không có căn cứ chấp nhận.
Xét kháng cáo của chị B và anh Q yêu cầu cấp phúc thẩm không buộc anh Q cùng với bà B trả nợ cho chị H là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, số tiền nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Q và chị B, tuy anh Q không tham gia thực hiện giao dịch nhưng anh Q và chị B không có gì chứng minh được việc chị B thực hiện giao dịch với chị H không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên anh Q phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với chị B trả số nợ 1.932.677.836 đồng cho chị Thái Kim H theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại cấp phúc thẩm chị B, anh Q cũng không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh kháng cáo của anh, chị là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của chị B và anh Q không có cơ sở để chấp nhận như hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
[4] Xét việc chị B xin thời gian khi nào chị thu hồi được tiền từ anh P sẽ trả lại số tiền nợ cho chị H. Yêu cầu này của chị B không được phía nguyên đơn chấp nhận và Bộ luật dân sự cũng không quy định về phương thức cũng như thời gian trả chậm nếu các bên đương sự không thỏa thuận được. Do đó, cấp sơ thẩm không xem xét phương thức thanh toán nợ của chị B là có cơ sở.
[5] Đối với yêu cầu phản tố, chị B có đơn xin rút yêu cầu phản tố đề ngày 23/7/2023, việc rút yêu cầu phản tố của chị B là tự nguyện nên cấp sơ thẩm chấp
nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của chị B theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương.
[6] Về án phí:
[6.1.] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn chị B, anh Q phải có nghĩa vụ chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền là 1.932.677.836 đồng, án phí được tính cụ thể như sau: {[1.932.677. 836 đồng = 36.000.000 đồng + (1.132.677.836 đồng x 3%) phần vượt quá 800.000.000 đồng] = 69.980.335 đồng} nhưng được làm tròn 69.980.000 đồng (Sáu mươi chín triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Chị B rút yêu cầu phản tố nên được trả lại tiền tạm ứng án phí tạm nộp là 35.684.000 đồng theo lai thu số 0006924 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Chị H được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 42.840.548 đồng theo lai thu số 0006855 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
[6.2.] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bị đơn Nguyễn Thị B số tiền là 300.000 đông (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001736 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (do anh Huỳnh Thanh Q nộp thay).
Hoàn trả cho bị đơn anh Huỳnh Thanh Q số tiền là 300.000 đông (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001735 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Kim H về việc buộc chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q trả số tiền gốc và lãi là 1.932.677.836 đồng.
- Buộc chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q phải có nghĩa vụ trả cho chị Thái Kim H số tiền nợ gốc là 1.903.366.000 đồng (một tỷ chín trăm lẻ ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của nguyên đơn chị Thái Kim H và người đại diện của bị đơn chị B, anh Q về số tiền lãi suất mà mà bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 29.311.836 đồng (hai mươi chín triệu ba trăm mười một nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
Tổng cộng gốc lãi buộc bị đơn chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Thanh Q có trách nhiệm trả cho chị Thái Kim H số tiền là: 1.932.677.836 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng), trong đó tiền nợ sau khi cấn trừ còn gốc là 1.903.366.000 đồng và tiền lãi là 29.311.836 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị B.
- Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Nguyễn Thị B, anh Huỳnh Thanh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 69.980.000 đồng (Sáu mươi chín triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 35.684.000 đồng (Ba mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006924 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Chị B, anh Q còn phải nộp thêm số tiền là 34.296.000 đồng (Ba mươi bốn triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Chị Thái Kim H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 42.840.548 đồng (bốn mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006855 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả lại cho bị đơn chị Nguyễn Thị B số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001736 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (do ông ông Huỳnh Thanh Q nộp thay).
Hoàn trả cho bị đơn anh Huỳnh Thanh Q số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001735 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 240/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác
- Số bản án: 240/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà B
