TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 240/2024/HSST Ngày: 10/12/2024 | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tú Nga – Chủ tịch UBMTTQVN p. Ngô Mây, Tp. Quy Nhơn
- Ông Trần Ngọc Hoà – Giáo viên hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thanh Trang – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 252/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 189/2024/HSST-QĐ ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
TRẦN CHÍNH NGUYÊN, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/02/2005 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Tên cha: Trần Trọng Đ, sinh năm 1971, tên mẹ: Nguyễn Thị C (chết); Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 15/3/2023, bị can bị Công an T6 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Ngày 24/3/2023, bị can bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản, Ngày 19/6/2023, bị can bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản; Bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T6, có mặt.
- Bị hại:
- Võ Đại T, sinh năm: 2011; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Tân V, sinh năm: 2011; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Tấn L, sinh năm: 2011; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Minh K, sinh năm: 2011; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Phạm Hồ Tuấn A, sinh năm: 2010; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Đỗ Hạo N, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Bạch Sử Toàn Q, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Trần Thị H, sinh năm: 1989; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Đinh Thị M, sinh năm: 1957; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm: 1990; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn L1, sinh năm: 1985; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: ông Hồ Văn T1, sinh năm: 1988; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Võ Thị Thanh T2, sinh năm: 1987; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: ông Bạch Xuân T3, sinh năm: 1980; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Đại N1, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Hữu T4, sinh năm: 2011; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Hồ Ngọc T5, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn K2, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Lê Bảo H1, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Trọng N2, sinh năm: 2012; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Bích K1, sinh năm: 1984; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Trần Thị Ngọc L2, sinh năm: 1989; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Thanh L3; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Thanh L4; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt
Người đại diện hợp pháp: bà Lê Thị H2; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Trúc Đ2, sinh năm: 1984; trú tại: thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Trần Chính N3 đã nhiều lần thực hiện hành vi dùng lời nói hăm dọa các em học sinh trường THCS N4, xã N, TP . nhằm chiếm đoạt tiền các em; cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào sáng ngày 10/10/2023, Trần Chính N3 đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía sau Trường THCS N4 rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại đây, N3 gặp Huỳnh Đại N1 (Sinh năm: 2011) đang ở khu vực nhà vệ sinh. N3 nói N1: “Em vào lớp kêu mấy thằng em ra anh gặp xin tiền xíu”. Sau đó, N1 gọi các em học sinh gồm Võ Đại T (Sinh năm: 2011), Nguyễn Tân V (Sinh năm: 2011), Nguyễn Tấn L (Sinh năm: 2011), Nguyễn Minh K (Sinh năm: 2011) ra khu vực nhà vệ sinh gặp N3. N3 dùng lời nói hăm dọa: “Mấy em có tiền không, cho anh mấy chục!”. Sau đó, T, K và V sợ bị N3 đánh nên tự lấy trong người ra mỗi người 10.000 đồng đưa cho N3. L nói không mang tiền nên N3 lục người L nhưng không có gì cả. Sau khi lấy được tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 ngày 12/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía sau Trường THCS N4 rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại khu vực nhà vệ sinh trường, N3 gặp các em Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Nguyễn Minh K. N3 dùng lời nói hăm dọa: “Mấy em có tiền không, cho anh mấy chục!”. Sau khi N3 hăm dọa, T lấy trong người ra 10.000 đồng, V lấy trong người ra 10.000 đồng, K lấy trong người ra 5.000 đồng đưa N3. N3 nhận được tiền rồi bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ 00 ngày 12/10/2023, Trần Chính N3 điều khiển xe mô tô (Không rõ biển số) của Huỳnh Đức D đi trên đường tại thôn L, xã N thì tình cờ gặp em Nguyễn Tấn L (Sinh năm: 2011) đang đi bộ trên đường. Nguyên nảy sinh ý định tiếp cận L để đe dọa, lấy tiền từ L. N3 lái xe áp sát L rồi dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh mấy chục!”. L nói không có tiền nên N3 tới lục người L và lấy đi 20.000 đồng. Sau khi lấy tiền, N3 điều khiển xe mô tô rời đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ tư: Khoảng 09 giờ 00 ngày 13/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía sau Trường THCS N4 rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại khu vực nhà vệ sinh, N3 gặp các em Võ Đại T, Nguyễn Tân V. N3 dùng lời nói hăm dọa sẽ đánh các em: “Mấy em có tiền không, cho anh mấy chục!”. Thụ, V sợ bị đánh nên mỗi em tự lấy trong người ra 20.000 đồng đưa N3. Trần Chính N3 nhận được tiền rồi bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ năm: Khoảng 06 giờ 00 ngày 14/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía trước Trường THCS N4 thì gặp em Nguyễn Tân V đang đi bộ một mình đến trường. Nguyên đến gần V, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh mấy chục!”. V sợ bị N3 đánh nên lấy 20.000 đồng đưa cho N3 rồi đi vào trường. Lát sau, có em Phạm Hồ Tuấn A (Sinh năm: 2010) đi bộ một mình đến trường. Nguyên đến gần A, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh mượn!”. Anh trả lời không có tiền thì N3 nói lớn “Mày không đưa tiền tao đánh mày giờ!”. Sợ bị N3 đánh nên A lấy 20.000 đồng đưa cho N3 rồi đi vào trường. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ sáu: Khoảng 09 giờ 00 ngày 14/10/2023, Trần Chính N3 đang ngồi ở gần Trường THCS N4 rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại khu vực nhà vệ sinh, N3 gặp em Võ Đại T. N3 dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh mấy chục!”. Sau đó, T sợ bị N3 đánh nên lấy trong người ra 20.000 đồng đưa N3. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ bảy: Khoảng 16 giờ 00 ngày 14/10/2023, Trần Chính N3 lái xe mô tô (Không rõ biển số) của Huỳnh Đức D đi trên đường tại thôn L, xã N, TP . thì tình cờ gặp em Nguyễn Tấn L đang đi bộ trên đường. Nguyên nảy sinh ý định tiếp cận L để đe dọa, lấy tiền từ L. Nguyên lái xe áp sát L, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh mấy chục!”. L sợ bị N3 đánh nên lấy trong người ra 20.000 đồng đưa N3 mà không dám phản kháng gì. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ tám: Khoảng 09 giờ 00 ngày 16/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía sau Trường THCS N4 rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại khu vực nhà vệ sinh, N3 gặp các em Võ Đại T, Nguyễn Tân V. N3 dùng lời nói hăm dọa: “Mấy em có tiền không, cho anh mấy chục!”. T sợ bị đánh nên lấy trong người ra 20.000 đồng, V lấy trong người ra 10.000 đồng đưa N3. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ chín: Khoảng 12 giờ 00 ngày 16/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía trước Trường THCS N4, TP Q để trấn lột tiền của các em học sinh. Tại đây, N3 gặp em Đỗ Hạo N (Sinh năm: 2012) đang đi bộ đến trường. Nguyên đến chỗ N, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, đưa cho anh!”. N sợ bị đánh nên lấy trong người ra 10.000 đồng đưa N3. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ mười: Khoảng 06 giờ 00 ngày 18/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía trước Trường THCS N4, TP . để trấn lột tiền của các học sinh. Tại đây, N3 gặp em Phạm Hồ Tuấn A (Sinh năm: 2010) đi bộ một mình đến trường. Bằng thủ đoạn tương tự, N3 đi đến gần A, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, cho anh xin!”. Anh sợ bị đánh nên tự lấy trong người ra 10.000 đồng đưa N3. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ mười một: Khoảng 09 giờ 00 ngày 18/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía sau Trường THCS N4, TP . rồi leo hàng rào sau nhà vệ sinh vào trong trường. Tại khu vực nhà vệ sinh, N3 gặp các em Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Huỳnh Đại N1. N3 dùng lời nói hăm dọa: “Mấy em có tiền không, cho anh mấy chục!”. T sợ bị đánh nên lấy trong người ra 40.000 đồng, V sợ bị đánh nên lấy trong người ra 20.000 đồng đưa N3. N3 nói Huỳnh Đại N1 lục người Viễn xem còn tiền không. N1 làm theo yêu cầu của N3 nhưng không lấy được gì thêm. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ mười hai: Khoảng 12 giờ 00 ngày 18/10/2023, Trần Chính N3 tiếp tục đi bộ từ nhà ở thôn L, xã N đến đoạn phía trước Trường THCS N4 để trấn lột tiền của các học sinh. Tại đây, N3 gặp em Đỗ Hạo N đang đi bộ đến trường. Bằng thủ đoạn tương tự, N3 đi đến chỗ N, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, đưa cho anh!”. N sợ bị đánh nên lấy trong người ra 10.000 đồng đưa N3. Sau khi lấy tiền, N3 bỏ đi và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ mười ba: Khoảng 09 giờ 00 ngày 20/10/2023, Trần Chính N3 nhắn tin qua ứng dụng “Messenger” hỏi Nguyễn Hữu T4 (Sinh năm: 2011) “Có tiền không cho anh mượn?” thì T4 trả lời: “Em không có tiền!”. N3 tiếp tục nhắn tin: “Không có tiền thì đi đến trường trấn lột học sinh cho anh”, T4 đồng ý. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, T4 đi bộ một mình từ nhà đến trước Trường THCS N4 để trấn lột tiền của các học sinh. Tại đây, T4 gặp em Đỗ Hạo N đang đi bộ đến trường. Thường đến gần N, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không? Đưa cho anh!”, N sợ bị đánh nên lấy 10.000 đồng đưa cho T4 rồi rời đi. Lát sau, T4 thấy em Bạch Sử Toàn Q (Sinh năm: 2012) đi bộ một mình đến trường thì tiến lại gần Q, dùng lời nói hăm dọa: “Có tiền không, đưa cho anh!”. Q sợ bị đánh nên lấy trong người ra 20.000 đồng đưa T4 rồi rời đi. Sau khi lấy được tiền, T4 hẹn gặp N3 để đưa tiền. Khoảng 13 giờ cùng ngày, tại trước nhà văn hóa xã N, T đưa N3 30.000 đồng đã lấy của N và Q. N3 nhận số tiền trên rồi rời đi, không chia lại cho T4. Nguyên đã tiêu xài hết số tiền trên.
Về dân sự: Trần Chính N3 đã bồi thường cho Đỗ Hạo N 10.000 đồng, Đỗ Hạo N không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm/Các bị hại Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tấn L, Nguyễn Minh K, Phạm Hồ Tuấn A, Đỗ Hạo N, Bạch Sử T, Nguyễn K2, Hồ Ngọc T5, Nguyễn Lê Bảo H1, Nguyễn Trọng N2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản Cáo trạng số 253/CT – VKSQN ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Trần Chính N3 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Chính N3 có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, từ ngày 10/10/2023 đến ngày 20/10/2023, tại xã N, TP ., Trần Chính N3 12 lần trực tiếp và 01 lần xúi giục Nguyễn Hữu T4 thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần của các em học sinh trường THCS N4 là Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tấn L, Nguyễn Minh K, Phạm Hồ Tuấn A, Đỗ Hạo N, Bạch Sử T (đều dưới 16 tuổi), chiếm đoạt của các em tổng cộng 345.000 đồng nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tiền án, có 03 tiền sự, có các tình tiết giảm nhẹ: người phạm tội thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, ông bà nội của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương trong kháng chiến chống Mỹ và có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về Dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trần Chính N3 có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Bản thân bị cáo nhận thức được việc đe dọa ép buộc người khác phải thực hiện giao tài sản cho mình là vi phạm pháp luật, nhưng do lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài, thoả mãn nhu cầu cá nhân mà trong khoảng thời gian từ ngày 10/10/2023 đến ngày 20/10/2023, tại xã N, TP ., Trần Chính N3 12 lần trực tiếp và 01 lần xúi giục Nguyễn Hữu T4 (sinh năm 2011) là người chưa thành niên thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần của các em học sinh trường THCS N4 là Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tấn L, Nguyễn Minh K, Phạm Hồ Tuấn A, Đỗ Hạo N, Bạch Sử T (đều dưới 16 tuổi), tổng số tiền bị cáo N3 chiếm đoạt của các bị hại tổng cộng 345.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” với tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 BLHS.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, được bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp và sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương, nên phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo không có tiền án nhưng có 03 tiền sự đều về hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội và có các tình tiết giảm nhẹ: người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, bị hại và gia đình cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông bà nội của bị cáo có công với cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52 BLHS để xem xét xử phạt bị cáo một mức án phù hợp của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà vừa bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, vừa đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
[3] Về bồi thường thiệt hại: các bị hại và gia đình không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[4] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với việc Huỳnh Đức D cho Trần Chính N3 mượn xe mô tô, N3 đã sử dụng xe mô tô này đi chiếm đoạt tiền của Nguyễn Tấn L. Tuy nhiên, D không biết Trần Chính N3 sử dụng xe mô tô chiếm đoạt tiền của Nguyễn Tấn L. Do đó, Huỳnh Đức D không đồng phạm với Trần Chính N3 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của Huỳnh Đại N1 giúp sức cho N3 chiếm đoạt tiền của các em Võ Đại T, Nguyễn Tân V, Nguyễn Minh K vào ngày 10/10/2023 và hành vi cùng T4 chiếm đoạt tiền của các em Hồ Ngọc T5, Đỗ Hạo N, Nguyễn K2 vào ngày 10/10/2023. Hành vi của N1 có dấu hiệu của tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền, N1 chưa đủ 14 tuổi nên không cấu thành tội phạm.
Đối với việc Nguyễn Hữu T4 có hành vi giúp sức cho Trần Chính N3 chiếm đoạt tiền của các em Đỗ Hạo N, Bạch Sử T vào ngày 20/10/2023; trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của các em Hồ Ngọc T5, Đỗ Hạo N, Nguyễn K2, Bạch Sử T, Nguyễn Lê Bảo H1, Nguyễn Trọng N2 vào các ngày 10/10/2023, 11/10/2023, 12/10/2023, 13/10/2023, 14/10/2023, 15/10/2023, 17/10/2023. Hành vi của T4 có dấu hiệu tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền, T4 chưa đủ 14 tuổi nên không cấu thành tội phạm.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 170, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Chính N3 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Chính N3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 19/6/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/12/2024). Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Văn Thị Minh Hoà |
Bản án số 240/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự - cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 240/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có 13 lần cưỡng đoạt tài sản của các em học sinh với tổng số tiền 345.000 đồng
