Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 240/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 24 và ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 243/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hữu T, sinh năm 2002 tại Bạc Liêu; Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi ở: Không có nơi ở nhất định; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh C, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị H (đã chết); Tiền án: Ngày 06/5/2021, bị cáo Lê Hữu T bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long an xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 33/2021/HS- ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/5/2023, chưa chấp hành xong án phí và bồi thường dân sự.

Nhân thân: Ngày 07/4/2019, Lê Hữu T bị Công an thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An ra quyết xử phạt hành chính phạt tiền 750.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản. Lê Hữu T đã chấp hành xong quyết định ngày 07/4/2019; Ngày 09/01/2020, Lê Hữu T bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2020/HS-ST (phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam, bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 15/5/2024 cho đến nay.

Bị hại: Ông Mạc Trung H1, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Khu phố L, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Châu Cảnh L, sinh năm 2005. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu T, anh Mạc Trung H1 (sinh năm 2004, nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau) và anh Châu Cảnh L (sinh năm 2005, nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang) là bạn bè với nhau.

Chiều ngày 09/12/2023, T và L tổ chức uống rượu tại phòng trọ của T thuê ở, nhà trọ N, thuộc ấp R, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, T điện thoại cho H1 nhờ đến phòng của T để chở L về. Khoảng 15 phút sau, H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 69AM-091.84 đến thì gặp T và L đang đứng đợi trước cổng nhà trọ Nguyễn Bảo L1. Lúc này, T rủ H1 đi đến nhà bạn của T để mượn tiền và nói L đứng chờ thì H1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 69AM-091.84 chở H1 đi đến đoạn đường L, thuộc khu phố T, phường A, thành phố B thì dừng xe lại nói H1 xuống xe đứng chờ T, đồng thời Thượng hỏi mượn xe mô tô biển số 69AM-091.84 đi đến gặp bạn mượn tiền rồi quay lại chở H1 về. H1 đồng ý và giao xe cho T điều khiển xe đi vào dãy nhà trọ không rõ tên cạnh đường đất đỏ, thuộc ấp T tìm bạn nhưng không gặp. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 69AM-091.84 của H1 đem bán lấy tiền tiêu xài nên điều khiển xe đến khu vực huyện H, thành phố Hồ Chí Minh bán xe cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch được 7.000.000 đồng, T đã tiêu xài hết. Sau đó, T bỏ trốn.

Đối với anh Mạc Trung H1, anh H1 đứng đợi đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày nhưng không thấy T quay lại nên anh H1 gọi điện thoại cho T, thì T nói dối là đang trên đường quay lại. Sau đó, anh H1 tiếp tục gọi điện thoại cho T nhưng không liên lạc được. Đến ngày 10/12/2023, anh H1 đến Công an phường A tố cáo hành vi phạm tội của T. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 02/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 69AM-091.84 trị giá là 43.600.000 đồng.

Quá trình điều tra, Lê Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của T phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Mạc Trung H1 yêu cầu Lê Hữu T phải bồi thường giá trị xe mô tô biển số 69AM-091.84 theo như kết luận của Hội đồng định giá.

Tại Bản Cáo trạng số 247/CT-VKSBC ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Hữu T mức hình phạt từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Hữu T phải bồi thường giá trị xe mô tô biển số 69AM-091.84 số tiền 43.600.000 đồng cho bị hại ông Mạc Trung H1.

Về biện pháp tư pháp: không có.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 247/CT-VKSBC ngày 10/9/2024.

Bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, tại khu vực thuộc khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Lê Hữu T sau khi được bị hại ông Mạc Trung H1 cho mượn xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 69AM-091.84 thì Lê Hữu T này sinh ý định chiếm đoạt tài sản, đem xe mô tô biển số 69AM-091.84 đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, rồi bỏ trốn. Theo Kết luận định giá tài sản ngày 02/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 69AM-091.84 trị giá là 43.600.000 đồng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, lười lao động bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, đã bị kết án theo Bản án số 01/2020/HS-ST ngày 09/01/2020, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo không có trình độ học vấn nên nhận thức pháp luật kém. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Mạc Trung H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 43.600.000 đồng giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Hữu T mức hình phạt 02 (hai) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông Mạc Trung H1 số tiền 43.600.000 đồng (Bốn mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.180.000 đồng (hai triệu một trăm tám mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 240/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Hữu T phạm tội "Lạm dụng tín chiệm chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger