Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 240/2024/DS-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v tranh chấp dân sự

hợp đồng tín dụng

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tác và ông Nguyễn Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 244/2024/QĐST-DS ngày ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K

Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc M – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Khoa H, sinh năm 1983 – Chuyên viên Xử lý nợ khu vực - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần K (theo QĐ uỷ quyền số 510/QĐ-NHKL ngày 23/02/2024), có mặt.

Bị đơn:

1. Bà Phan Thị G, sinh năm 1962, cómặt.

Địa chỉ: Á, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

2. Ông Hồ Văn M1, sinh năm 1958 (đã chết ngày 26/4/2020)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M1 gồm:

2.1 Bà Phan Thị G, sinh năm 1962 (vợ ông M1), có mặt.

2.2 Anh Hồ Hoàng P, sinh năm 1980 (con ông M1),vắng mặt.

2.3 Chị Hồ Thị Bích T, sinh năm 1982 (con ông M1),vắng mặt.

2.4 Chị Hồ Thị Bích L, sinh năm 1986 (con ông M1), vắng mặt.

Cùng cư trú: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phan Thị L1, sinh năm 1950; Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.

2. Ông Phan Văn P1, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

3. Bà Dương Thị Bích H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Nguyên ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G có đến Ngân hàng Thương mại cổ phần K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay tổng số tiền 392.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 cụ thể như sau:

Số tiền vay: 392.000.000 đồng

Mục đích vay: Bổ sung vốn chăn nuôi bò.

Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.

Ngày giải ngân: 21/11/2019.

Lãi suất vay: 11.5%/năm áp dụng đối với các khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng này. Các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng tại thời điểm thay đổi lãi suất (+) biên độ 3.8%/năm và không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình thức và phương thức cho vay). Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ.

Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Hình thức thanh toán: gốc + lãi trả cuối kỳ.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được công chứng tại Phòng C, địa chỉ số B, đường T, ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00269QSDĐ/hC do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777 m² mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S 224788, số vào sổ giấy chứng nhận 00550QSDĐ/cC, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944 m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện P, tỉnh An Giang ngày 14/11/2016 và ngày 16/11/2016. Trong quá trình vay vốn, ông M1 và bà G liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông M1 bà G không thanh toán nợ theo thỏa thuận. Hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán, ông M1 và bà G vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Tính đến ngày 06/9/2024, ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là:

Vốn gốc 392.000.000 đồng; lãi trong hạn 44.413.063 đồng; lãi quá hạn 247.660.767 đồng; phạt lãi chậm trả 16.852.628 đồng. Tổng cộng 700.926.458 đồng

Căn cứ Hợp đồng tín dụng từng lần số Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G;

Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G.

Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L2

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu như sau:

Yêu cầu ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2024 là 700.926.458 đồng và tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L1. Trường hợp ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thoả thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng, tài sản gồm:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00269QSDĐ/hC do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777 m² mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224788, số vào sổ giấy chứng nhận 00550QSDĐ/cC, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944 m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

Bị đơn bà Phan Thị G trình bày:

Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng ý trả nợ cho nguyên đơn nhưng sau khi vay tiền thì ông M1 đã chết, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa có tiền trả nợ cho Ngân hàng. Tôi xin được trả phần vốn và lãi trong hạn, xin không phải trả lãi phạt và lãi quá hạn.

Diện tích đất 2.777 m² do ông M1 đứng hiện nay cho ông Phan Văn P1 thuê hàng năm. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thuê giữa tôi với ông P1 trong vụ án này.

Đối với Hồ Thị Bích T hiện nay đang cư trú tại Đài Loan, tôi không cung cấp được địa chỉ cụ thể của T vì T không đồng ý cung cấp địa chỉ và nói rằng vụ án này không có liên quan đến T. T đi Đài Loan vào năm 2002, lập gia đình và sinh sống ở Đài Loan. Nơi cư trú cuối cùng của T trước khi sang Đài Loan là ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồ Văn M1: ông Hồ Hoàng P và chị Hồ Thị Bích L trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin nguyên đơn miễn phần lãi quá hạn, lãi phạt. Chỉ xin trả vốn gốc và lãi trong hạn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị L1 trình bày: Khi ông M1 vay tiền tôi có dùng tài sản của mình là diện tích 4.944 m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, do tôi đứng tên để đảm bảo khoản vay của Ngân hàng. Nay ông M1 đã chết, Ngân hàng yêu cầu tôi đồng ý tiếp tục dùng tài sản của mình thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do hoàn cảnh của vợ con ông M1 quá khó khăn nên xin trả vốn và lãi trong hạn; còn lãi quá hạn, lãi phạt xin được miễn.

Diện tích đất này hiện nay đã cho cháu là Dương Thị Bích H1 thuê hàng năm. Tôi với H1 không tranh chấp hợp đồng thuê, không yêu cầu Tòa án giải quyết trọng vụ án này.

Tại bản tự khai ngày 25/7/2024 bà Dương Thị Bích H1 trình bày: Hiện nay tôi đang thuê diện tích đất 4.944 m² của bà Phan Thị L1, đất tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Việc thuê chỉ nói bằng miệng, không lập hợp đồng bằng văn bản. Hiện nay tôi đang quản lý và canh tác. Tôi không cho ai thuê lại. Tôi không có ý kiến gì đối với việc Ngân hàng kiện bà G, cũng không tranh chấp hợp đồng thuê đất với bà L1. Không yêu cầu giải quyết hợp đồng thuê trong vụ án với Ngân hàng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2024 ông Phan Văn P1 trình bày: Năm 2023 tôi có thuê đất 2.777m² của bà Phan Thị G, đất tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Việc thuê chỉ nói bằng miệng, không lập hợp đồng bằng văn bản. Hiện nay tôi đang quản lý và canh tác. Tôi không cho ai thuê lại cả. Hiện nay diện tích đất này đã thế chấp cho Ngân hàng K. Tôi không có ý kiến gì đối với việc Ngân hàng kiện bà G, cũng không tranh chấp hợp đồng thuê đất. Không yêu cầu giải quyết hợp đồng thuê trong vụ án với Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt khi xét xử không rõ lý do, cho thấy chưa chấp hành theo quy định tại các Điều 70, 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn bà Phan Thị G, đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồ Văn M1 gồm ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T, bà Hồ Thị Bích L có trách nhiệm liên đới trả số tiền vốn và lãi 700.926.458 đồng (tính đến ngày 06/9/2024) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo thoả thuận cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L1. Trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thoả thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ, gồm:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00269QSDĐ/hC do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777 m² mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224788, số vào sổ giấy chứng nhận 00550QSDĐ/cC, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944 m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

Về chi phí tố tụng và án phí: Bị đơn phải chịu án phí và lệ phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 31/10/2023 và tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G liên đới trả cho Ngân hàng vốn vay và lãi tính theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà G cho rằng người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồ Văn M1 là chị Hồ Thị Bích T có nơi cư trú tại Đài Loan nhưng không đồng ý cung cấp địa chỉ cho Tòa án. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồ Văn M1 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H1 và anh P1 có đơn xin xét xử vắng mặt vì thế Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên Tòa án xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Nguyên đơn yêu cầu ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G liên đới trả nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 tiền vốn 392.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu đồng); lãi từ ngày 21/11/2019 đến ngày xét xử (06/9/2024) là 308.926.458 đồng, đồng thời tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng hạn mức.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L1. Trường hợp ông Hồ Văn M1 và bà Phan Thị G không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thoả thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng, tài sản gồm:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp GCN 00269QSDĐ/hC do UBND huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777 m2 mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224788, số vào sổ 00550QSDĐ/cC, do UBND huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944 m2, thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 giữa hai bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, được lập thành văn bản là phù hợp với Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 319, 463, 466 Bộ luật Dân sự nên hợp đồng nêu trên phát sinh hiệu lực. Thừa nhận nợ của bà Phan Thị G, ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích L và trình bày của bà Phan Thị L2 đủ căn cứ xác định ông M1 và G có nhận số tiền vay 392.000.000 đồng của Ngân hàng. Sau khi vay đến nay ông M1 bà G không đóng lãi cũng không trả vốn. Ông M1 và bà G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông M1 và bà G liên đới trả nợ gốc 392.000.000 đồng, là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị đơn trả cho nguyên đơn vốn vay 392.000.000 đồng.

Ông M1 đã chết vào ngày 26/4/2020, nên người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông được xác định là bà Phan Thị G, ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T và bà Hồ Thị Bích L. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không có ý kiến hay văn bản từ chối nhận di sản của ông M1 để lại, cũng như không có thỏa thuận khác. Vì vậy, bà G, ông P, bà T và bà L vẫn phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, đối với hợp đồng thuê đất giữa bà Phan Thị G và ông Phan Văn P1, hợp đồng thuê đất giữa bà Phan Thị L1 và bà Dương Thị Bích H1 do các bên không có yêu cầu giải quyết trong vụ án với Ngân hàng nên không xem xét; đối với yêu cầu xin nguyên đơn miễn phần lãi quá hạn, lãi phạt chỉ xin trả vốn gốc và lãi trong hạn không được đại diện Ngân hàng đồng ý nên không có căn cứ xem xét.

[3.3] Về yêu cầu trả lãi Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với tiền lãi của Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 nguyên đơn tạm tính đến ngày 06/9/2024 là 308.926.458 đồng. Trong đó lãi trong hạn 44.413.063 đồng; phạt lãi chậm trả lãi 16.852.628 đồng; lãi quá hạn 247.660.767 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn từ ngày 21/11/2020. Việc nguyên đơn áp dụng mức lãi suất và yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với Hợp đồng tín dụng từng lần và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị đơn trả lãi tạm tính đến ngày 06/9/2024 là 308.926.458 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 07/9/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ.

[3.4] Về tài sản thế chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện P vào ngày 16/11/2016 đúng quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bị đơn cần duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L1. Trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thoả thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ là:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00269QSDĐ/hC do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777m² mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224788, số vào sổ giấy chứng nhận 00550QSDĐ/cC, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

[3.5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 800.000 đồng, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Nguyên đơn đã nộp xong nên bị đơn phải hoàn trả lại nguyên đơn số tiền nêu trên.

[4] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí.

Bà Phan Thị G là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án miễn cho bà G án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông P, bà T và bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ vào các Điều 463, 465, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long

1. Buộc bà Phan Thị G, ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T và bà Hồ Thị Bích L liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền vốn và lãi tính đến ngày 06/9/2024 là 700.926.458 đ (bảy trăm triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng), gồm:

- Tiền vốn gốc 392.000.000đ (Ba trăm chín mươi hai triệu đồng)

- Tiền lãi trong hạn 44.413.063 đ (Bốn nươi bốn triệu bốn trăm mười ba nghìn không trăm sáu mươi ba đồng)

- Tiền lãi quá hạn 247.660.767đ (Hai trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi bảy trăm sáu mươi bảy đồng)

- Tiền phạt lãi chậm trả 16.852.628đ (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng)

Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 07/9/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 729/19/HĐTD/1202-5049 ngày 21/11/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.1/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440.2/16/HĐTC-BĐS/1202-3649 ngày 14/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K – Phòng G1 với ông Hồ Văn M1, bà Phan Thị G và bà Phan Thị L1. Trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thoả thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ, gồm:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224538, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00269QSDĐ/hC do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 12/10/2001, diện tích 2.777m² mục đích sử dụng: đất AO 2L, thửa đất số 2551, tờ bản đồ số 02. Toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Hồ Văn M1.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số S224788, số vào sổ giấy chứng nhận 00550QSDĐ/cC, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/5/2001, diện tích 4.944m², thửa đất số 3603; 5882 tờ bản đồ số 01. Mục đích sử dụng: Đất LUC, toạ lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên Phan Thị L1.

3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 800.000 đồng bà Phan Thị G, ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T và bà Hồ Thị Bích L phải chịu. Ngân hàng Thương mại cổ phần K đã nộp xong nên bà Phan Thị G, ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T và bà Hồ Thị Bích L phải hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền nêu trên.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phan Thị G được miễn số tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Hồ Hoàng P, bà Hồ Thị Bích T và bà Hồ Thị Bích L phải chịu án phí sơ thẩm là 32.037.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.400.000 đồng theo biên lai số 0006731 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 240/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger