|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 240/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Ái Trúc và bà Phạm Thị Thu Hà
Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân TP Vinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhật Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 221/2024/TLST-HS ngày 25/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2024/QĐXXST-HS ngày 01/08/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương L; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1988 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: 505 Nhà ở CTVDV cuối đường N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: nhà số A, ngõ B, đường T thuộc khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết L1 và bà Đặng Thị H; chồng: Nguyễn Tiến N, sinh năm 1988 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2016; Anh chị em ruột có 2 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bị hại: Chị Nguyễn Quỳnh T, sinh năm 1997. Nơi ĐKTT: CH1111-B3 Tầng A M (khu B), phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị H1, sinh năm 1973 Địa chỉ: khối H, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 04/2024, Nguyễn Thị Phương L về chung sống với em gái của mình là chị Nguyễn Quỳnh T tại số A, ngõ B, đường T thuộc khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian chung sống, L thường xuyên mượn và sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda vision, màu đỏ, biển kiểm soát 29P1 – 60853 của chị T để làm phương tiện đi lại. Đến ngày 18/05/2024, do thiếu tiền tiêu xài, L nảy sinh ý định mang chiếc xe trên đi cầm cố nên lục trong túi xách của chị T lấy 01 giấy đăng ký xe máy, 01 giấy phép lái xe mang tên chị T. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/05/2024, L điều khiển chiếc xe trên và mang theo giấy tờ đến Cửa hàng cầm đồ Hồng P, số H đường T thuộc khối H, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An để cầm cố cho chị Phan Thị H1 (là chủ cửa hàng). Tại đây, L nói dối chị H1 rằng L tên là T rồi đưa cho chị H1 các giấy tờ và ảnh Căn cước công dân mang tên chị T (căn cước công dân của chị T lưu trong điện thoại của L trước đó). Thấy giấy tờ và Căn cước công dân mang tên Nguyễn Quỳnh T nên chị H1 đồng ý cầm cố chiếc xe trên với số tiền 9.000.000 đồng. Số tiền đó, L đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết chiếc xe đã bị L cầm cố, chị T đã nhiều lần yêu cầu L trả xe nhưng L không chịu trả. Ngày 15/04/2024 chị Nguyễn Quỳnh T đến Công an phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An trình báo sự việc.
Ngày 16/05/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda vision, màu đỏ, biển kiểm soát 29P1 – 60853, 01 chứng nhận đăng ký mô tô xe máy mang tên Nguyễn Quỳnh T, 01 hợp đồng cầm cố từ chị Phan Thị H1.
Ngày 17/05/2024, Nguyễn Thị Phương L đến Công an phường L, thành phố V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Tại kết luận định giá tài sản số 158/KL-ĐGTS ngày 30/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự UBND thành phố V kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda vision, màu đỏ, biển kiểm soát 29P1 – 60853, xe đã qua sử dụng có trị giá thời điểm ngày 08/05/2024 tại thành phố V là 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng)”.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda vision, màu đỏ, biển kiểm soát 29P1 – 60853, Cơ quan cảnh sát Công an thành phố V đã trả lại cho chị Nguyễn Quỳnh T.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Quỳnh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị H1 đã nhận số tiền 9.000.000 đồng do Nguyễn Thị Phương L bồi thường nên không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 233/CT-VKS-TPV ngày 24/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Thị Phương L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của BLHS
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 điều 175; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị P1 Liên từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Thị Phương L cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo L.
- - Về trách nhiệm dân sự: đề nghị không xem xét.
- - Về án phí: buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Ngày 08/05/2024, sau khi mượn được xe máy của chị Nguyễn Quỳnh T để làm phương tiện đi lại, Nguyễn Thị Phương L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nên lấy trộm giấy tờ xe và giấy tờ cá nhân của chị T rồi đưa đi cầm cố tại cửa hàng C (số H, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An) để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chiếc xe có trị giá 17.500.000 đồng.
Như vậy, hành vi mà Nguyễn Thị Phương L thực hiện đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tự nguyện trả lại số tiền chiếm đoạt cho chị Phan Thị H1; người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của BLHS.
Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo với mức xử phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi, nhân thân bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Quỳnh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm; chị Phan Thị H1 đã nhận số tiền 9.000.000 đồng do Nguyễn Thị Phương L bồi thường, không yêu cầu gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 175; điều 65; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Phương L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/08/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Phương L cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Thị Phương L.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án buộc Nguyễn Thị Phương L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nhung |
Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 240/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
