TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 240/2024/DS-PT Ngày 10 tháng 12 năm 2024 V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng, bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 60/2024/DS- ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 263/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 401/2024/QĐ-PT ngày 20/11/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- - Ông Thân Văn T, sinh năm 1960 (Có mặt)
- - Ông Nguyễn Đức S, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Yên Sơn, xã Nghĩa Trung, thị xã Việt Yên, Bắc Giang.
Bị đơn:
Thôn Yên Sơn, xã Nghĩa Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện: Ông Vũ Hồng T1- Trưởng thôn (Vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
UBND xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang- Do ông Thân Văn T2, Chủ tịch U (Vắng mặt)
Người kháng cáo: Các nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:
- Nguyên đơn là ông Thân Văn T trình bày: Ông làm trưởng thôn Y, xã N từ 2005 đến 2011. Trong các năm 2005, 2006, 2008, 2009 UBND huyện V (nay là thị xã V) có quyết định giao đất ở cho nhân dân có thu tiền sử dụng đất. Sau khi nhận được các quyết định trên được sự ủy quyền của UBND xã N, ông họp dân, thu hồi đất và giao đất, việc thu tiền thì UBND xã đã ủy quyền cho thôn thu; Toàn bộ số tiền chênh lệch ông đã nhập quỹ thôn và chi tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng thôn phục vụ sinh hoạt dân sinh và sản xuất như xây nhà văn hóa năm 2006, xây nhà thờ tổ chùa năm 2007, xây các cống thôn, xây mương cứng trong khoảng thời gian 2006- 2008, do đã lâu không nhớ cụ thể số tiền đã xây dựng. Năm 2012 ông bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện V khởi tố về tội “Lạm quyền trong thi hành công vụ”. Đến ngày 21/7/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử sơ thẩm tại Bản án số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017 theo đó buộc ông phải bồi thường tiền thu chênh lệch cho các hộ dân trong đó ông 70% anh Nguyễn Đức S 30%, cụ thể ông đã bồi thường cho các ông bà sau: Ông Dương Văn N, sinh năm 1967 số tiền là 9.800.000đ; Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1972 14.700.000đ; bà Thân Thị S1, sinh năm 1962 số tiền 7.000.000đ; ông Nguyễn Quyết T4, sinh năm 1972 số tiền 5.600.000đ, ông Dương Văn N1, sinh năm 1959 số tiền 9.800.000đ; Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952 số tiền 6.300.000đ, ông Phạm Văn C, sinh năm 1942, số tiền 6.300.000đ, Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1976 số tiền 8.400.000đ; Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1960 số tiền 7.000.000đ. Toàn bộ số tiền trên ông đã thanh toán cho những người trên. Căn cứ theo Bản án số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017, thì ông có quyền yêu cầu thôn Y phải trả lại số tiền ông đã bồi thường cho các bị hại, do đó ông yêu cầu Thôn Y trả lại số tiền 72.800.000đ.
- Nguyên đơn là ông Nguyễn Đức S trình bày: Ông làm Phó trưởng thôn Y từ 2005 đến 2011. Trong các năm 2005, 2006, 2008, 2009 UBND huyện V (nay là thị xã V) có quyết định giao đất ở cho nhân dân có thu tiền sử dụng đất. Sau khi nhận được các quyết định trên được sự ủy quyền của UBND xã N, ông có tổ chức họp dân, thu hồi đất và giao đất, việc thu tiền thì UBND xã đã ủy quyền cho thôn thu. Toàn bộ số tiền chênh lệch ông đã nhập quỹ thôn và chi tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng thôn phục vụ sinh hoạt dân sinh và sản xuất như xây nhà văn hóa năm 2006, xây nhà thờ tổ chùa năm 2007, xây các cống thôn, xây mương cứng trong khoảng thời gian 2006 – 2008. Đến năm 2012 ông cùng với ông Thân Văn T bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện V khởi tố về tội “Lạm quyền trong thi hành công vụ”. Đến ngày 21/7/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017 theo đó buộc ông liên đới với ông Thân Văn T bồi thường tiền thu chênh lệch cho các hộ dân trong đó ông 30% ông S 70%, cụ thể ông đã bồi thường cho các ông bà sau: Ông Dương Văn N, sinh năm 1967 số tiền là 4.200.000đ; ông Phạm Văn T3, sinh năm 1972 số tiền 6.300.000đ; bà Thân Thị S1, sinh năm 1962 số tiền 3.000.000đ; ông Nguyễn Quyết T4, sinh năm 1972 số tiền 2.400.000đ, ông Dương Văn N1, sinh năm 1959 số tiền 4.200.000đ; Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952 số tiền 2.700.000đ, ông Phạm Văn C, sinh năm 1942, số tiền 2.700.000đ, Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1976 số tiền 3.600.000đ; Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1960 số tiền 2.100.000đ. Toàn bộ số tiền trên ông đã thanh toán xong. Theo Bản án số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017, thì ông có quyền yêu cầu thôn Y phải trả lại số tiền ông đã bồi thường cho các bị hại do đó ông yêu cầu Thôn Y trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại trong vụ án hình sự là 31.200.000đ.
- Bị đơn là Thôn Y do ông Vũ Hồng T1 là Trưởng thôn trình bày: Từ năm 2011 đến năm 2021, ông làm Phó trưởng thôn Y, từ năm 2021 đến nay ông làm Trưởng thôn Y; giai đoạn từ năm 2005 đến 2011 ông Thân Văn T làm Trưởng thôn, ông S làm Phó trưởng thôn, việc giao đất có thu tiền sử dụng đất cho nhân dân là có tuy nhiên ông T, ông S thu chênh lệch thế nào ông không năm được; sau khi ông T, ông S nghỉ không bàn giao lại cho Trưởng thôn khóa sau.
Trong giai đoạn ông T làm trưởng thôn có xây dựng các công trình như nhà Văn hóa thôn năm 2006; nhà thờ tổ của chùa năm 2007, xây mương cứng và cống nước, việc xây dựng này nhân dân trong thôn không phải đóng góp. Khi ông làm trưởng thôn không được bàn giao gì liên quan đến công nợ của thôn, đến nay ông T, ông S yêu cầu thôn trả số tiền 104.000.000đ, quan điểm của thôn là ông T và ông S có làm các công trình cho nhân dân như nhà văn hóa, nhà thờ tổ, kênh mương, thôn đề nghị ông T, ông S phải có chứng từ cụ thể xây dựng các công trình này để thôn đối chiếu.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã N có quan điểm: Các công trình Nhà văn hóa, cải tạo hồ Y; xây dựng cống thả tầm, rải đường giao thông nội đồng, xây dựng mương cứng, đường giao thông; nhà thờ tổ, chùa; lắp đạt hệ thống loa phát thanh đều do Ban lãnh đạo thôn Y thời kỳ 2005- 2009 chủ trương xây dựng và quyết toán thu chi, UBND xã N không là chủ đầu tư xây dựng các công trình nêu trên; hiện tại còn công trình nhà văn hóa thôn Y vẫn đang sử dụng.
Với nội dung trên, Bản án dân sự số 60/2024/DS- ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên đã quyết định:
Áp dụng: khoản 2 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 8, Điều 158, Điều 163, Điều 166 của Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 26, điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/21016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thân Văn T yêu cầu thôn Y hoàn trả lại số tiền 72.800.000 đồng, ông Nguyễn Đức S yêu cầu thôn Y hoàn trả lại số tiền 31.200.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án.
Ngày 19/9/2024, nguyên đơn là ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Thân Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn là ông Nguyễn Đức S vắng mặt tại phiên tòa.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc thực hiện các quy định của pháp luật của Thư ký, HĐXX, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Thân Văn T, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm:
Căn cứ Điều 295, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức S.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Thân Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 60/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Ông Thân Văn T được miễn án phí DSPT; ông Nguyễn Đức S phải chịu án phí DSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai không có lý do của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức S có kháng cáo. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 295, khoản 3 Điều 296, khoản 5 Điều 308; Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức S.
Việc vắng mặt lần thứ hai của UBND xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt đối với UBND xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
[2] Xét kháng cáo của ông Thân Văn T, HĐXX thấy:
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì thôn không phải là một cấp hành chính. Căn cứ Bộ luật Dân sự quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự phải là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì thôn không phải là đơn vị có tư cách pháp nhân. Do đó, thôn không phải là chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự. Tại mục 26, phần IV, của Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Tòa án nhân dân tối cao đã quy định: “Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì thôn không phải là đơn vị có tư cách pháp nhân, thôn không phải là đơn vị hành chính”.
Tòa án đã giải thích cho ông T về tư cách tham gia tố tụng của thôn nhưng ông T không thay đổi người bị kiện do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T vì khởi kiện không đúng đối tượng.
Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thân Văn T là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Thân Văn T về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 60/2024/DS- ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T và ông S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, 5 Điều 308, khoản 3 Điều 296; Điều 312 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức S. Không chấp nhận kháng cáo của ông Thân Văn T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 60/2024/DSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Miễn án phí DSPT cho ông Nguyễn Văn T5.
- - Ông Nguyễn Đức S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001358 ngày 19/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 240/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 240/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản
