TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 240/2024/DS - ST
Ngày: 09 - 8 - 2024
“V/v tranh chấp thừa kế quyền sử
dụng đất và hiệu lực của di chúc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trương Thị Kim Tiến;
- Bà Lê Thị Xuân Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 662/2023/TLST-DS ngày 18/10/2023 về việc tranh chấp “thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hiệu lực của di chúc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2024/QĐXXST-DS ngày 30/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt);
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của ông B: Bà Trần Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 07/11/2023, có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1970.
- Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp Nhơn Hoà 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An
Địa chỉ: Ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
1
Người đại diện hợp pháp của bà K: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/8/2024, có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1945, chết ngày 24/5/2023) và ông Huỳnh Văn T (sinh năm 1942, chết ngày 01/8/2007) là vợ chồng hợp pháp. Bà L và ông T có 03 con chung gồm: Ông Huỳnh Văn B, bà Huỳnh Thị H, bà Huỳnh Thị K, không có con riêng hay con nuôi hợp pháp nào khác. Cha mẹ đẻ của bà L và ông T đều đã chết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2011/DS-ST ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa về việc tranh chấp di sản thừa kế giữa bà L, bà H, bà K với ông B có hiệu lực pháp luật, đã chia di sản thừa kế của ông T xong. Theo đó, bà L được chia diện tích 447m², thuộc một phần thửa 312 (thửa mới 1572), tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà L đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số DI 1007854 ngày 03/7/2023.
Ngày 24/5/2023, bà L chết không để lại di chúc. Thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (sau đây gọi chung là thửa đất 1572, thửa mới 1335) là di sản thừa kế của bà L. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thửa đất 1572 (thửa mới 1335) làm 03 kỷ phần, bà được hưởng 01 kỷ phần là 149m². Trường hợp không chia được hiện vật, bà đồng ý nhận toàn bộ diện tích đất và hoàn giá trị cho các thừa kế còn lại là bà K và ông B.
Đối với Di chúc ngày 17/6/2021 do ông B cung cấp, bà thừa nhận dấu vân tay và chữ ký trong di chúc là của bà L. Thửa đất 312 (9m ngang) nêu trong di chúc là thửa 1572 (thửa mới 1335) và căn nhà nằm trên thửa đất là căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3) theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024 ngày 01/01/2024 của Công ty T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 09/01/2024 (sau đây gọi chung là M trích đo địa chính số 23-2024). Tuy nhiên, tại thời điểm lập di chúc, bà L bị bệnh, sức khỏe rất yếu, không thể tự mình ký tên hay lăn tay vào di chúc được. Bà nghĩ ông B cầm tay bà L để lăn tay. Mặt khác, di chúc không có xác nhận của chính quyền địa phương hay công chứng của tổ chức có chức năng hành nghề công chứng nên bà khởi kiện bổ sung: Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Di chúc ngày 17/6/2021, đối với di sản là thửa 312 (ngang 9m, thửa mới 1572), tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và căn nhà trên thửa đất này do không hợp pháp, vi phạm quy định pháp luật.
Bà thống nhất với kết quả định giá tại Chứng thư định giá số 020/2024/343-HD/TĐG LA – BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty H1 (sau đây gọi
2
chung là Chứng thư định giá số 020/2024/343-HD/TĐG LA – BĐS), thống nhất đơn giá xây dựng căn nhà (ký hiệu 3) là 1.966.921 đồng/m2.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Trần Thị N trình bày:
Bà là vợ của ông B và là người đại diện theo ủy quyền của ông B. Bà thống nhất với lời trình bày của bà H về mối quan hệ huyết thống của các ông bà H, K, B; hàng thừa kế thứ nhất của bà L và di sản thừa kế của bà L để lại là thửa đất 1572 (thửa mới 1335) và căn nhà gắn liền. Hiện tại thửa đất 1572 (thửa mới 1335) do vợ chồng bà bà quản lý, sử dụng.
Khi còn sống, bà L lập Di chúc ngày 17/6/2021, nội dung thể hiện di sản gồm 02 thửa đất 312, 313. Thửa đất 312 (ngang 9m) là diện tích đất được chia thừa kế cho bà L theo Bản án số 79/2011/DS-ST ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Bà L đã được cấp GCNQSD đất đối với phần đất này, thửa đất mới được hình thành là 1572. Riêng thửa 313 (ngang 2m) là diện tích đất được sử dụng làm đường đi theo Bản án số 79 đã tuyên. Phần diện tích này không cấp GCNQSD đất cho ai, chỉ sử dụng làm đường đi chung cho mọi người đi vào khu mộ của gia đình. Trên đất có các tài sản gồm: Chuồng chó, diện tích 17,4m² (ký hiệu 1); hồ nước, diện tích 2m² (ký hiệu 2); nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3); chuồng gà, diện tích 28,8m² (ký hiệu 4). Căn nhà nằm trên thửa đất 312, 313 nêu trong di chúc là nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3). Do đó, ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, yêu cầu độc lập của bà K và có yêu cầu phản tố như sau:
- Yêu cầu công nhận hiệu lực của Di chúc ngày 17/6/2021, đối với di sản là thửa 312 (ngang 9m, thửa mới 1572), tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3) theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024.
- Chia thừa kế theo Di chúc ngày 17/6/2021. Theo đó, ông B được chia toàn bộ thửa đất 1572 (thửa mới 1335), diện tích 447m² và căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3) theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024.
Bà thống nhất với kết quả định giá tại Chứng thư định giá số 020/2024/343-HD/TĐG LA – BĐS, thống nhất đơn giá xây dựng căn nhà (ký hiệu 3) là 1.966.921 đồng/m². Đối với căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3) được xây dựng trên thửa đất 1572 (thửa mới 1335) và một phần thửa 1334 của ông B đứng tên. Bà không có ý kiến và yêu cầu Tòa án tuyên cho ông B được sở hữu căn nhà này theo di chúc.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị K trình bày, tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị H đại diện cho bà K trình bày:
Bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1945, chết ngày 24/5/2023) và ông Huỳnh Văn T (sinh năm 1942, chết ngày 01/8/2007) là vợ chồng hợp pháp. Bà L và ông T có 03 con chung gồm: Ông Huỳnh Văn B, bà Huỳnh Thị H và Huỳnh Thị K,
3
không có con riêng hay con nuôi hợp pháp nào khác. Cha mẹ đẻ của bà L và ông T đều đã chết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2011/DS-ST ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa về việc tranh chấp di sản thừa kế giữa bà L, bà H, bà K với ông B có hiệu lực pháp luật đã chia di sản thừa kế của ông T xong. Theo đó, bà L được chia diện tích 447m², thuộc một phần thửa 312 (thửa mới 1572), tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà L đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy CNQSD đất số DI 1007854 ngày 03/7/2023.
Bà K thừa nhận có ký tên vào tờ Di chúc ngày 17/6/2021 và biết nội dung di chúc là bà L để thừa kế cho ông B diện tích đất 447m², thuộc một phần thửa 312 (thửa mới 1572), tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Ngoài việc ký tên, bà còn viết vào tờ di chúc nội dung “má tôi Nguyễn Thị L để lại cho anh tôi Huỳnh Văn B 9 mét đất làm nhà thờ, không được bán. Tôi Huỳnh Thị K đồng ý như ý của mẹ tôi để cho anh Huỳnh Văn B thừ kế. Em, con gái”. Di chúc ngày 17/6/2021 gồm 02 tờ, tờ thứ nhất là nội dung di chúc thể hiện bà L để lại diện tích đất 550m², cụ thể thửa 312, 313, có kích thước ngang 11m x 50m (trong đó gồm: Ngang 9m đất nền và 2m đường đi) và tài sản gắn liền với đất là căn nhà nằm trên thửa đất 312, 313, có kích thước 11m x 50m (gồm 9m ngang đất nền và 2m đường đi), chính là diện tích 447m², thuộc một phần thửa 312 (thửa mới 1572) và diện tích đất có kích thước ngang 2m, dài khoảng 50m (là đường đi xuống mả) thuộc thửa 313. Hai thửa đất đều chia thừa kế cho bà L theo Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2011/DS-ST ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Lý do bà ký tên vào Di chúc ngày 17/6/2021 là tại thời điểm đó, bà L sức khỏe yếu không nói chuyện được, ông B đưa di chúc ra yêu cầu bà ký tên và nói cho bà biết bà L để lại thửa đất nhà ở 312 và thửa đất đường đi 312 cho ông B để làm nhà thờ, thờ cúng cha mẹ. Khi bà ký tên vào di chúc đã có dấu lăn tay của bà L và chữ ký của những người làm chứng. Vì muốn để cho mẹ bà mất thanh thản nên bà đồng ý ký tên. Việc ký tên và viết nội dung vào di chúc của bà là hoàn toàn tự nguyện, không bị ông B ép buộc. Bà nghĩ di chúc này không có giá trị nên bà ký.
Thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là di sản thừa kế của bà L nên bà có yêu cầu độc lập về việc chia thừa kế thửa đất 1572 làm 03 kỷ phần, bà được hưởng 01 kỷ phần là 149m². Trường hợp không chia được hiện vật, bà yêu cầu nhận tiền và người được hưởng hiện vật có nghĩa vụ hoàn lại tiền cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Văn bản số 690 ngày 19/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ (kèm theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận), Bản
4
án dân sự số 79 ngày 26-27/4/2011, Thông báo số 19 ngày 19/5/2011, Thông báo số 41 ngày 02/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa và sự thừa nhận của các đương sự, có cơ sở để xác định thửa đất số 1572, tờ bản đồ số 15, toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An được cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị L ngày 03/7/2023 trên cơ sở giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế. Bà H và bà K cho rằng thửa đất 1572 là di sản thừa kế của bà L chết để lại chưa chia, Di chúc ngày 17/6/2021 là không hợp pháp.
Xét thấy, Di chúc ngày 17/6/2021 được bà L lập thể hiện nội dung để lại cho ông B thừa hưởng thửa đất số 312, 313 (ngang 11m, dài 50m) và căn nhà gắn liền với đất, trong đó đất nền là 9m ngang hiện nay là thửa 1572 và lối đi 2m (các bên không tranh chấp). Di chúc có người làm chứng bà Hồ Thị P, Nguyễn Minh P1, Phạm Văn R ký xác nhận, có chữ ký, dấu lăn tay của bà L, có chữ viết đồng ý và chữ của bà K. Những người ký xác nhận trong di chúc là bà P, ông P1, ông R và bà K đều xác nhận chữ ký của mình, các đương sự thừa nhận chữ ký và dấu lăn tay của bà L.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định Di chúc ngày 17/6/2021 là hợp pháp và có hiệu lực theo quy định tại các Điều 624, 625, 626, 627, 630, 631, 632, 634, 643 Bộ luật dân sự (BLDS). Do đó, yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận và không chấp yêu cầu khởi kiện của bà H và yêu cầu độc lập của bà K1 là không có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà H và bà K yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thửa đất 1572 (thửa mới 1335), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đối với ông Huỳnh Văn B, cư trú tại xã Đ, huyện Đ. Ông B yêu cầu chia thừa kế theo di chúc. Các đương sự yêu cầu xem xét hiệu lực của Di chúc ngày 17/6/2021 nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hiệu lực của di chúc”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 3, 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
[1.2] Về thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà K
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 08/8/2024, Tòa án thụ lý yêu cầu độc lập của bà K về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là thửa đất 1572. Xét việc thụ lý yêu cầu độc lập của bà K là cần thiết cho việc giải quyết triệt để vụ án. Cùng ngày 08/8/2024, Tòa án mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố nội dung yêu cầu độc lập của bà K và kết quả định giá tại Chứng thư
5
định giá số 020/2024/343-HD/TĐG LA – BĐS. Đồng thời, Thẩm phán chủ tọa giải thích cho đương sự về quyền được yêu cầu HĐXX tạm ngừng phiên tòa để các đương sự có thời gian tiếp cận tài liệu chứng cứ và đưa ra ý kiến đối với yêu cầu độc lập của bà K. Tuy nhiên, các đương sự không yêu cầu, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Do đó, HĐXX vẫn tiếp tục xét xử theo quy định.
[1.3] Về phạm vi giải quyết vụ án
Di sản thừa kế được thể hiện tại Di chúc ngày 17/6/2021 là diện tích đất 550m², cụ thể thửa 312, 313, có kích thước ngang 11m x 50m (trong đó gồm: ngang 9m đất nền và 2m đường đi) và tài sản gắn liền với đất là căn nhà nằm trên thửa đất 312, 313, có kích thước 11m x 50m (gồm 9m ngang đất nền và 2m đường đi). Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2023 của Tòa án và M trích đo địa chính số 23-2024 thể hiện trên thửa đất 1572 (thửa mới 1335) gồm: Chuồng chó, diện tích 17,4m² (ký hiệu 1); hồ nước, diện tích 2m² (ký hiệu 2); nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3); chuồng gà, diện tích 28,8m² (ký hiệu 4).
Bà H chỉ yêu cầu vô hiệu một phần di chúc đối với di sản là thửa đất 312 (ngang 9m đất nền, thửa mới 1572) và căn nhà gắn liền; không yêu cầu xem xét di sản là thửa đất 313 (2m đường đi). Đồng thời, bà H và bà K chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất 1572 (thửa mới 1335). Ông B yêu cầu công nhận hiệu lực của di chúc và chia thừa kế theo di chúc đối với thửa đất 1572 (thửa mới 1335) và căn nhà (ký hiệu 3) của M trích đo địa chính số 23-2024. Căn cứ Điều 5 BLTTDS, Tòa án chỉ xem xét giải quyết theo yêu cầu của đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét tính hợp pháp của Di chúc ngày 17/6/2021
Di chúc ngày 17/6/2021 được lập thành văn bản, gồm 02 tờ, không được đánh số trang, bà L không ký tên và lăn tay vào tờ thứ nhất của di chúc. Các đương sự đều thống nhất thửa đất 312 (ngang 9m) được thể hiện trong di chúc là thửa đất 1572, hiện bà L đứng tên trên GCNQSD đất số DI 1007854 ngày 03/7/2023. Căn nhà được nêu trong di chúc là nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3) theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024. Thửa đất 1572 (thửa mới 1335) và nhà (ký hiệu 3) là di sản thừa kế của bà L. Hàng thừa kế thứ nhất của bà L gồm ông B, bà H và bà K. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS.
Những người làm chứng là các ông bà Hồ Thị P, Nguyễn Minh P1, nhân chứng Phạm Văn R đều ký tên vào tờ thứ 2 và xác nhận bà L lập di chúc trong tình trạng minh mẫn, khỏe mạnh, tự nguyện lập di chúc, lăn tay và ký tên vào di chúc trước mặt các ông bà. Mặt khác, tại tờ thứ hai của di chúc, ngoài ký và ghi rõ họ tên, bà K còn viết nội dung “má tôi Nguyễn Thị L để lại cho anh tôi Huỳnh Văn B 9m đất dài để làm nhà thờ, không đuộc bán. Tôi Huỳnh Thị K đồng ý như ý của mẹ tôi để lại cho anh Huỳnh Văn B thừa kế”. Bà K thừa nhận, nội dung tờ thứ nhất của di chúc là bà L để lại thửa đất nhà ở 312 và thửa đất đường đi 313
6
cho ông B để làm nhà thờ, thờ cúng cha mẹ. Việc ký tên và viết nội dung vào di chúc của bà là hoàn toàn tự nguyện, không bị ông B ép buộc.
Xét thấy, mặc dù bà L không ký tên và lăn tay vào tờ thứ nhất của di chúc nhưng những người làm chứng đảm bảo quy định tại Điều 632 BLDS và bà K đều thừa nhận nội dung của di chúc là để lại toàn bộ di sản cho ông B là thửa đất 312, 313 và tài sản gắn liền. Từ đó, có căn cứ kết luận, tờ thứ nhất và tờ thứ hai của Di chúc ngày 17/6/2021 mà ông B cung cấp cho Tòa án là một bản di chúc thống nhất, không có sự cắt ghép thay thế tờ thứ nhất và tờ thứ hai của di chúc.
Bà H cho rằng tại thời điểm lập di chúc bà L đang bị bệnh rất nặng, không thể nhận thức được hành vi của mình. Tuy nhiên, theo hồ sơ bệnh án của bà L do Bệnh viện ĐKKV Hậu Nghĩa cung cấp, thời gian điều trị của bà L tại Bệnh viện lần lượt từ ngày 02/4/2021 đến ngày 09/4/2021; từ ngày 25/3/2021 đến ngày 30/3/2021; từ ngày 03/6/2021 đến ngày 08/6/2021, chẩn đoán viêm phổi, cơn đau thắt ngực, tăng huyết áp, suy kiệt. Thời gian điều trị bệnh tại Bệnh viện Đ từ cuối năm 2021 đến năm 2022. Như vậy, hồ sơ bệnh án của bà L không xác định tại thời điểm lập di chúc bà L không minh mẫn, sáng suốt hoặc bị hạn chế về thể chất.
Từ những phân tích trên, HĐXX xác định Di chúc ngày 17/6/2021 là hợp pháp theo quy định tại Điều 630 BLSD, có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế là ngày 24/5/2023. Từ đó, yêu cầu vô hiệu di chúc đối với di sản là thửa 312 (thửa mới 1572) và căn nhà gắn liền của bà H không được HĐXX chấp nhận.
[2.2] Về chia di sản thừa kế là thửa đất 1572 (thửa mới 1335)
Do Di chúc ngày 17/6/2021 có hiệu lực pháp luật nên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà H và bà K đối với thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mói 1335, tờ bản đồ mới số 18) không được HĐXX chấp nhận và chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của ông B. Theo đó, ông B được chia thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mói 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Thông tin thửa đất được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024 ngày 02/8/2023. Hiện thửa đất 1572 (thửa mới 1335) do bà L đứng tên trên GCNQSD đất.
Căn cứ nội dung của di chúc và theo yêu của ông B, Tòa án chỉ xem xét đối với tài sản gắn liền là căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3). Do đã công nhận hiệu lực của di chúc nên ông B được sở hữu căn nhà này. Xét, căn nhà (ký hiệu 3) được xây dựng trên thửa đất 1572 (thửa mới 1335) và một phần thửa 1334 của ông B, bà N đại diện cho ông B không có ý kiến đối với việc này và đồng ý nhận toàn bộ căn nhà. Việc giao cho ông B toàn bộ căn nhà (ký hiệu 3) được xây dựng trên thửa 1572 (thửa mới 1335) và một phần thửa 1334 không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B và của cá nhân khác. Do đó, yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của ông B đối với căn nhà (ký hiệu 3) được HĐXX chấp nhận.
7
Đối với các tài sản trên đất còn lại gồm: Chuồng chó, diện tích 17,4m² (ký hiệu 1); hồ nước, diện tích 2m² (ký hiệu 2); chuồng gà, diện tích 28,8m² (ký hiệu 4). Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Như vậy tổng giá trị di sản ông B được chia thừa kế theo di chúc là 1.544.423.869 đồng (giá trị đất là 1.493.874.000 đồng, giá trị nhà là 50.549.869 đồng)
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông B và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà K.
[3] Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ là 27.000.000 đồng bà H phải chịu. Bà H đã nộp và chi xong.
[4] Về án phí: Bà H và bà K không phải chịu án phí đối với yêu cầu chia di sản thừa kế không được HĐXX chấp nhận. Bà H phải chịu án phí có giá ngạch là 300.000 đồng đối với yêu câu vô hiệu di chúc không được HĐXX chấp nhận. Ông B phải chịu án phí 58.332.716 đồng trên giá trị tài sản được chia là 1.544.423.869 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 612, 624, 625, 626, 627, 630, 631, 632, 634, 643 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26; Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất là thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và vô hiệu Di chúc ngày 17/6/2021 đối với ông Huỳnh Văn B.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Văn B về việc công nhận hiệu lực của Di chúc ngày 17/6/2021 và chia thừa kế theo di chúc thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và căn nhà gắn liền thửa đất.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị K về việc tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất tại thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đối với ông Huỳnh Văn B.
8
- Tuyên bố Di chúc ngày 17/6/2021 của bà Nguyễn Thị L, đối với di sản là thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và căn nhà gắn liền có hiệu lực pháp luật.
- Ông Huỳnh Văn B được chia thừa kế thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Giao cho ông Huỳnh Văn B được quyền sở hữu tài sản là căn nhà, diện tích 51,4m² (ký hiệu 3), được xây dựng trên thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335 và một phần thửa 1334, tờ bản đồ số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024 ngày 01/01/2024 của Công ty T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 09/01/2024.
- Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 27.000.000 đồng. Bà H đã nộp và chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Văn B được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh, chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa đất 1572, tờ bản đồ số 15 (thửa mới 1335, tờ bản đồ mới số 18), toạ lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Thông tin thửa đất được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 23-2024 ngày 01/01/2024 của Công ty T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 09/01/2024.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005293 ngày 30/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Huỳnh Thị H đã nộp xong.
Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị H số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0006164 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị K số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0005377 ngày 08/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Ông Huỳnh Văn B phải chịu án phí là 58.332.716 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 14.000.000 đồng mà ông B đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005421 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
9
Đức Hòa. Ông Huỳnh Văn B phải nộp tiếp số tiền 44.332.716 đồng (bốn mươi bốn triệu, ba trăm ba mươi hai ngàn, bảy trăm mười sáu đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |
10
Bản án số 240/2024/DS - ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hiệu lực của di chúc
- Số bản án: 240/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hiệu lực của di chúc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Huệ - Huỳnh Văn Bự
