TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 240/2024/HS-ST | |
Ngày 07 - 5 - 2024. | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đức Thọ
Ông Nguyễn Vũ Lâm
Ông Nguyễn Hồ Phong.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 743/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1990, tại Bắc Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn P, xã P, huyện Q (nay là thị xã Q), tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị B; vợ Trần Thị H1; có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:
Ngày 12/7/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh B (PC02) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự số 78, quyết định khởi tố bị can số 250 đối với Nguyễn Văn H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam (trong vụ án khác) tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: đội D, thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn T, xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lưu Thị Ngọc L thuộc Văn phòng L1 và cộng sự - Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2023, Công an xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội nhận đơn của anh Nguyễn Văn H tố cáo bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi thuê xe ô tô tự lái nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, biển kiểm soát (viết tắt: BKS) 30H-454.37 của anh H nhưng sau đó đã bán xe ô tô cho người khác.
Qua trình điều tra xác định:
Khoảng tháng 4/2023, chị Nguyễn Thị H2 nhờ bạn là anh Nguyễn Văn H đứng ra tìm khách để cho thuê xe ô tô tự lái nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 đứng tên chủ xe là Nguyễn Thị H2. Anh H đã đăng tin cho thuê xe ô tô tự lái trên mạng xã hội Facebook, tên tài khoản là “Kenly N", số điện thoại liên hệ 0965.804.xxx.
Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, ngày 01/5/2023, bị can Nguyễn Văn H nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái để đem cầm cố cho người khác lấy tiền tiêu xài. Bị cáo H vào mạng xã hội Facebook với tên tài khoản là “H” và thấy nội dung anh Nguyễn Văn Hải đ tin cho thuê xe ô tô tự lái. Bị cáo H liên hệ, gọi điện thoại cho anh H để thỏa thuận thuê xe ô tô BKS: 30H-454.37. Anh H đồng ý và hai bên hẹn gặp nhau tại sảnh Tòa S1.09 Khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để thuê xe.
Chiều cùng ngày 01/5/2023, theo hẹn, bị cáo Nguyễn Văn H đến địa điểm nêu trên gặp anh H thuê xe ô tô tự lái nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37, với giá thuê là 2.000.000 đồng/ngày, thời hạn thuê xe là 05 ngày, từ ngày 01/5/2023 đến ngày 08/5/2023. Tại đây, bị can H ký “Hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái đề ngày 01/5/2023 đứng tên Bên cho thuê xe là Nguyễn Thị H2” và chuyển 40.000.000 đồng vào tài khoản số 8820118881989 mở tại Ngân hàng V của chị Nguyễn Thị Vân Q (là bạn gái anh H). Trong đó có: 10.000.000 đồng là bị cáo H trả trước tiền thuê xe cho anh H và 30.000.000 đồng bị cáo H nhờ anh H chuyển đổi giúp thành tiền mặt để sử dụng.
Sau khi ký hợp đồng thuê xe, anh H đã giao xe ô tô Mercedes C250, BKS: 30H-454.37 cho bị cáo H cùng giấy tờ xe (gồm: Giấy đăng kiểm xe bản gốc và bản photo Chứng nhận đăng ký xe ô tô chủ xe là Nguyễn Thị H2 - có xác nhận xe đang được thế chấp tại Ngân hàng V1, bản photo Giấy phép lái xe của anh Nguyễn Văn H). Sau khi nhận xe ô tô BKS: 30H-454.37 từ anh H giao, bị cáo H đã mang xe ô tô trên đi cầm cố xe ô tô ở một số nơi nhưng đều bị từ chối. Đến khoảng 16 giờ ngày 06/5/2023, bị cáo H gọi điện cho anh H đề nghị trả xe ô tô, không thuê xe nữa, anh H đồng ý và bảo bị cáo H mang xe ô tô BKS: 30H-454.37 đến sảnh Tòa S1.09 KĐT Vinhomes Oceanpark, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để trả cho anh H.
Khoảng 17 giờ cùng ngày 06/5/2023, bị cáo H lái xe ô tô Mercedes C250, BKS: 30H-454.37 đến địa chỉ trên gặp anh H, nhưng anh H cho biết chị Q đang giữ hợp đồng cho thuê xe, hiện chị Q không có mặt ở nhà nên anh H bảo bị cáo H cứ mang xe ô tô trên về, hẹn ngày hôm sau mang xe đến trả lại cho anh H. Anh H sẽ không tính tiền thuê xe phát sinh, bị cáo H đồng ý và lái xe ô tô về.
Trên đường lái xe ô tô BKS: 30H - 454.37 về nhà ở Bắc Ninh, khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày 06/5/2023, do cần tiền để chi tiêu cá nhân và phát hiện tên H trùng với tên của anh Nguyễn Văn H, H gọi điện cho bạn quen biết ngoài xã hội là anh Nguyễn Đức T1 (tên gọi khác là “Nhíp”, số điện thoại 0921.346.xxx) để trao đổi về việc H đang cần tiền nên bán xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37. H nói nguồn gốc chiếc xe ô tô này là của vợ H tên Nguyễn Thị H2, xe ô tô đăng ký chính chủ và chụp ảnh giấy tờ xe gửi cho anh T1 xem trước. Sau khi trao đổi, anh T1 hẹn gặp H tại cửa hàng làm đẹp của chị Nguyễn Thị P (sinh năm: 1989) tại khu vực đầu làng thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang để xem xe.
Tại đây, bị cáo H đưa cho anh T1 giấy tờ xe gồm: bản photo Chứng nhận đăng ký đứng tên chủ xe là Nguyễn Thị H2 đang thế chấp ngân hàng, bản gốc giấy Chứng nhận kiểm định xe đứng tên Nguyễn Thị H2 và bản photo Giấy phép lái xe của anh Nguyễn Văn H trùng với họ tên bị cáo Nguyễn Văn H. Sau khi kiểm tra các giấy tờ xe thấy trùng khớp nên anh T1 đồng ý mua xe ô tô Mercedes C250, BKS: 30H-454.37 của bị cáo H với giá 250.000.000 đồng, nhưng anh T1 chỉ chuyển khoản trước số tiền là 237.500.000 đồng tiền mua xe vào tài khoản số 1013005155 của bị cáo Nguyễn Văn H mở tại Ngân hàng V và hẹn 15 ngày anh T1 sẽ chuyển 12.500.000 đồng còn lại cho bị cáo H khi bị cáo H đến đưa lại các giấy tờ xe gốc cho anh T1. Hai bên có ký Giấy bán xe do bị can H viết, chị P ký người chứng kiến.
Sau khi nhận 237.500.000 đồng tiền bán xe ô tô từ anh T1, cùng ngày 06/5/2023, bị can H liên hệ với người quen là chị Trần Thị Thu H3 nhờ chuyển 80.000.000 đồng vào tài khoản số 19035103088010 của chị H3 mở tại Ngân hàng T4 chi nhánh B1 để đổi lấy số tiền trên bằng tiền mặt của chị H3. Sau đó, bị cáo H liên hệ với anh Nguyễn Văn T2 nhờ chuyển 120.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của anh T3 mở tại Ngân hàng M - Chi nhánh B2 để đổi lấy số tiền trên bằng tiền mặt của anh T2. Sau khi đã đổi lấy tiền mặt của chị H3 và anh T2, bị cáo H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Còn lại 37.500.000 đồng trong tài khoản, bị cáo H cũng sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khoảng tối ngày 08/5/2023, anh Nguyễn Văn H không thấy bị cáo H mang xe ô tô về trả, anh H gọi điện cho bị can H hỏi và được bị cáo H cho biết đã bán xe ô tô Mercedes C250, BKS: 30H-454.37, hiện không có khả năng trả lại xe cho anh H. Cùng ngày 08/5/2023, anh Nguyễn Văn H đã đến Công an xã Đ, huyện G trình báo sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn H khai nhận hành vi chiếm đoạt xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, BKS: 30H-454.37 phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị H2, chị Q, anh T1, chị P, anh T2, chị H3.
Ngày 09/5/2023, bà Nguyễn Thị H4 (là mẹ của anh Nguyễn Đức T1) đã tự nguyện giao nộp xe ô tô BKS: 30H - 454.37 cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện G, thành phố Hà Nội.
Ngày 29/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, BKS: 30H-454.37 cho chị Nguyễn Thị H2.
* Phòng C – Công an H5 cung cấp: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37, chủ xe là Nguyễn Thị H2 (sinh năm: 1994; trú tại: Đ, Thôn Đ, xã T, huyện C, Hà Nội).
* Tại Bản kết luận giám định số 4081 ngày 23/6/2023 của Phòng K1 - Công an H5, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37, số khung: RLMWF4FX9FV000936, số máy: 2749203043664, là số nguyên thủy.
* Tại Bản kết luận giám định số 5154 ngày 03/8/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H5, kết luận: Chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn H dưới mục "Người bán" trên tài liệu Giấy bán xe đề ngày 06/5/2023; và Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn H dưới mục "Đại diện bên A" trên tài liệu Hợp đồng thuê xe đề ngày 01/5/2023, so với chữ viết, chữ ký của bị can Nguyễn Văn H là do cùng một người viết và ký ra.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 có trị giá là 610.000.000 đồng.
* Xác minh tại Ngân hàng V1 Chi nhánh P1, xác định: Ngày 13/01/2022, Ngân hàng V2 - Chi nhánh P1 có ký Hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp tài sản với vợ chồng ông Nguyễn Tất K và bà Nguyễn Thị H2 vay số tiền là 820.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm. Tài sản đảm bảo vay là: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37, giấy đăng ký chủ xe là Nguyễn Thị H2. Quá trình vay vốn, ông Nguyễn Tất K đã trả tiền vay gốc và tiền lãi đúng hạn quy định, hiện xe ô tô BKS: 30H-454.37 vẫn đang thế chấp khoản vay tại Ngân hàng V1.
* Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, bị can Nguyễn Văn H còn thực hiện hành vi phạm tội khác, ngày 12/7/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh B (PC02) đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hiện bị can Nguyễn Văn H đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường dân sự. Anh Nguyễn Đức T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải hoàn trả số tiền 237.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 658/CT-VKSHN-P3 ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H từ 09 năm tù đến 10 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại là chị H2 đã được nhận lại xe ô tô, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức T1 số tiền 237.500.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận như sau: Sau khi xảy ra vụ án, bị cáo đã tỏ ra rất ăn năn hối cải và thành khẩn khai báo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già, con nhỏ, vợ bỏ đi. Do vậy, đề nghị tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra đề nghị tòa xem xét vai trò đồng phạm của anh T1 vì anh T1 thấy xe đang bị cầm cố tại Ngân hàng V1 mà vẫn giao dịch mua bán là chưa đúng các quy định của pháp luật. Do đó, số tiền 237.500.000 đồng là tiền anh T1 bỏ ra mua xe của bị cáo đề nghị tòa cân nhắc trả lại anh T1 hay tịch thu sung quỹ Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H5, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Lời khai của Nguyễn Văn H tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian tháng 5/2022, do cần tiền để sử dụng và chi tiêu cá nhân, Nguyễn Văn H đã nảy sinh việc thuê xe ô tô tự lái để mang đi cầm cố lấy tiền sử dụng. Ngày 01/5/2023, Nguyễn Văn H đã thuê xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 của chị Nguyễn Thị H2 (do anh Nguyễn Văn H đứng ra làm thủ tục cho thuê xe hộ) và mang đi bán cho anh Nguyễn Đức T1 với số tiền 237.500.000 đồng, chi tiêu cá nhân hết. Trị giá xe ô tô Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 bị cáo H chiếm đoạt là 610.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử phạt nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[2.3]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, còn phải bồi thường một số tiền lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Chiếc xe ô tô Mercedes C250, màu đen, BKS: 30H-454.37 đã được thu hồi trả lại cho chị Nguyễn Thị H2, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không xét. Anh Nguyễn Đức T1 khi mua xe không biết là xe do bị cáo phạm tội mà có. Do vậy, anh yêu cầu bị cáo phải trả lại anh số tiền 237.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.5]. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2.6]. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2.7]. Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H: 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức T1 số tiền 237.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.875.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐINH QUỐC TRÍ |
Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 240/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
