|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 240/2025/HS-ST Ngày 21/11/2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Biên
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký Tòa án khu vực 1 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn K, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 02/12; Bố: Phạm Văn T, sinh năm 1959; Mẹ: Ngô Thị T1, sinh năm 1962; Vợ: Vy Thị S, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 16 ngày 22/7/2004 Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xoá án tích.
- + Ngày 10/10/2025 bị Trưởng Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh B.
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1980, (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1978, (Vắng mặt).
(Anh K1 ủy quyền cho chị T2)
Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Thân Đức C, sinh năm 1984, (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, (Vắng mặt).
(Chị H ủy quyền cho anh C)
Đều địa chỉ: Tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1962, (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Đinh Công H1, sinh năm 1973, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 8/2025, Phạm Văn K, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tại địa bàn phường Đ, tỉnh Bắc Ninh cụ thể như sau.
* Vụ thứ nhất:
Khoảng 03 giờ ngày 04/8/2025, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-192.54 kéo theo thùng xe tự chế đi từ nhà đến các tuyến đường thuộc phường Đ mục đích để trộm cắp tài sản. Khi K đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng của gia đình chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1980 ở tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh thì thấy cửa hàng không có cổng, trên vỉa hè để nhiều tấm tôn nên nảy sinh ý định trộm cắp. K lùi xe vào sát vỉa hè rồi lần lượt bê 09 tấm tôn màu ghi xám loại tôn SSSC Việt Nhật (gồm 08 tấm tôn kích thước 3,4x1,08m và 01 tấm tôn có kích thước 1,7x1,08m đều chưa qua sử dụng) để lên thùng xe rồi điều khiển xe đi khỏi hiện trường. Sau đó, K điều khiển xe mô tô chở 09 tấm tôn đi đến nhà ông Đinh Công H1, sinh năm 1973 ở cùng tổ dân phố đặt vấn đề bán với giá 3.000.000 đồng. Ông H1 hỏi về nguồn gốc số tôn này thì K nói là tài sản của K. Ông H1 đồng ý mua và trả cho K 3.000.000 đồng tiền mặt. K để lại 09 tấm tôn tại nhà ông H1 rồi điều khiển xe đi về nhà.
Ngày 24/8/2025, chị T2 có đơn trình báo và giao nộp file video ghi lại hình ảnh K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐ ĐGTS ngày 03/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- 01 tấm tôn xốp, loại tôn SSSC Việt Nhật, màu ghi xám kích thước (1,08x1,7)m trị giá 266.220 đồng.
- 08 tấm tôn xốp, loại tôn SSSC Việt Nhật, màu ghi xám kích thước (1,08x3,4)m trị giá 4.259.520 đồng.
Tổng cộng: 4.525.740 đồng
* Vụ thứ hai:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 20/8/2025, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-192.54 kéo theo thùng xe tự chế đi từ nhà đến tổ dân phố K, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm tài sản để trộm cắp. K quan sát thấy kho hàng của gia đình anh Thân Đức C, sinh năm 1984 trú tại tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh không có cửa, bên trong có nhiều tấm tôn không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. K đi vào bê lần lượt 08 tấm tôn xốp Hoa Sen màu đỏ (gồm 7 tấm có kích thước 1,08x5,6m và 01 tấm kích thước 1,08x6,6m đều chưa qua sử dụng) để lên thùng xe rồi điều khiển xe chở số tôn này đi bán. Khoảng 03 giờ cùng ngày, K đi đến nhà ông Đinh Công H1 đặt vấn đề bán 08 tấm tôn với giá 2.850.000 đồng. K nói số tôn này là của K nên ông H1 đồng ý mua và nói sẽ thanh toán sau. K để lại 08 tấm tôn tại nhà ông H1 rồi điều khiển xe về nhà. Buổi trưa cùng ngày, ông H1 đã thanh toán cho K 2.850.000 đồng tiền mặt.
Ngày 24/8/2025, anh C có đơn trình báo và giao nộp các file video ghi lại hình ảnh K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 24/8/2025, Phạm Văn K đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 áo phông cộc tay màu đỏ, 01 quần bò ngố. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của K thu giữ 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu ghi xám. K khai đây là quần áo mà K mặc khi trộm cắp tài sản.
Ngày 24/8/2025, ông Đinh Công H1 giao nộp tổng số 17 tấm tôn do Phạm Văn K bán (bút lục 182). Cơ quan điều tra cho bị can K, chị T2 và anh C quan sát những tài sản trên. Kết quả K, chị T2, anh C đều nhận dạng đúng tài sản do K trộm cắp (bút lục 139; 161).
Kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐ ĐGTS ngày 03/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- 01 tấm tôn xốp loại tôn Hoa Sen, màu đỏ kích thước (1,08x6,6)m trị giá 997.920 đồng.
- 07 tấm tôn xốp loại tôn Hoa Sen, màu đỏ kích thước (1,08x5,6)m trị giá 5.927.040 đồng.
Tổng cộng: 6.924.960 đồng
Cơ quan điều tra cho Phạm Văn K xác định điạ điểm trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản. Kết quả K đã xác định đúng vị trí trộm cắp các tấm tôn tại vỉa hè trước của nhà chị T2 và tại nhà xưởng của gia đình anh C ở phường Đ, tỉnh Bắc Ninh; địa điểm K bán các tấm tôn tại gia đình ông H1 ở tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh (bút lục 65-79).
Cơ quan điều tra cho Phạm Văn K và ông Đinh Công H1 nhận dạng ảnh của nhau. Kết quả, bị can K và ông H1 đều nhận đúng ảnh và xác định K bán cho ông H1 09 tấm tôn xốp ngày 04/8/2025 và bán 08 tấm tôn xốp ngày 20/8/2025 (bút lục 57-61) .
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video do những người bị hại giao nộp. Kết luận giám định số 2471/KL-KTHS ngày 18/9/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định có tên “6962506739076.mp4” có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không, không tiến hành trích xuất hình ảnh do nội dung được ghi lại từ một thiết bị đang trình chiếu qua một thiết bị khác.
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định.
- Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định (bút lục 39).
Cơ quan điều tra cho Phạm Văn K quan sát video và bản ảnh trích xuất từ kết luận giám định. Bị can K xác định có hình ảnh K điều khiển xe mô tô biển số 98F1-129.54 và 01 thùng xe tự chế và thực hiện 02 hành vi trộm cắp các tấm tôn ngày 04/8/2025 và ngày 20/8/2025 (bút lục 85-102).
Ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, quá trình điều tra xác định: Ngày 23/8/2025, K sử dụng xe mô tô biển số 98F1-129.54 và 01 thùng xe tự chế trộm cắp 05 tấm cốp pha tại địa bàn thôn B, xã L, tỉnh Bắc Giang sau đó bị Công an xã L phát hiện và bị tạm giữ phương tiện, tang vật. Công an xã L đã bàn giao xe mô tô biển số 98F1-129.54 và thùng xe tự chế cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Do tài sản trộm cắp trị giá dưới 2.000.000 đồng nên ngày 10/10/2025, Công an xã L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với Phạm Văn K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với K ngày 24/8/2025 dương tính với ma túy MET. K khai ngày 24/8/2025 chở xe ôm cho một người đàn ông không quen biết tại khu vực phường T, tỉnh Bắc Ninh được người đó trả công bằng 1/2 viên ma túy ngựa. K đã sử dụng hết. Kết quả xác minh tại Công an phường T xác định K không một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B có văn bản đề nghị Trưởng Công an phường T xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với người đàn ông mà K khai đã cho K ma túy nhưng K không biết tên và địa chỉ nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với ông Đinh Công H1 có hành vi mua tổng số 17 tấm tôn do Phạm Văn K đem đến bán nhưng không biết là tài sản do K phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị T2, anh Thân Đức C và ông Đinh Công H1 không yêu cầu bị can Phạm Văn K bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nguyễn Thị T2 09 tấm tôn xốp SSSC Việt Nhật và trả lại anh Thân Đức C 08 tấm tôn xốp Hoa Sen.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 98F1-129.54 và thùng xe tự chế là tài sản của bà Ngô Thị T1 là mẹ của K. Bà T1 không biết K sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại bà T1.
Đối với 01 áo phông cộc tay màu đỏ, 01 áo phông cộc tay màu ghi xám, 01 quần bò của bị can K được nhập kho vật chứng để giải quyết theo quy định.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn K khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu như bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo được xác định hiện trường của các vụ trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã được nhận kết luận định giá tài sản bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình. Ngoài bị cáo ra không có ai thực hiện cùng. Đối với 01 áo phông cộc tay màu đỏ, 01 áo phông cộc tay màu ghi xám, 01 quần bò không có giá trị sử dụng nên bị cáo không xin lại.
- Bà Ngô Thị T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà không có ý kiến gì. Bà giữ nguyên lời trình bày của bà tại cơ quan điều tra.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo và bà T1 nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
-
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay mày ghi xám, 01 áo phông cộc tay màu đỏ; 01 quần bò ngố đều đã qua sử dụng.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 04/8/2025, Phạm Văn K trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thị T2 ở tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh 09 tấm tôn nhãn hiệu SSSC Việt Nhật chưa qua sử dụng trị giá 4.525.740 đồng.
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 20/8/2025, Phạm Văn K trộm cắp của gia đình anh Thân Đức C ở tổ dân phố khu C, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh 08 tấm tôn nhãn hiệu Hoa Sen chưa qua sử dụng trị giá 6.924.960 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà K trộm cắp là 11.450.700 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong các ngày 04/8/2025 và ngày 20/8/2025 bị cáo K đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản mỗi lần trộm cắp đều đủ cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú, có bố đẻ được Bộ trưởng Bộ Q tặng bằng khen nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị pháp luật hình sự xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Bắc Ninh là phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về Vật chứng:
- Đối với 01 áo phông cộc tay mày ghi xám, 01 áo phông cộc tay màu đỏ; 01 quần bò ngố đều đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không đề nghị được xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/8/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay mày ghi xám, 01 áo phông cộc tay màu đỏ; 01 quần bò ngố đều đã qua sử dụng.
- Về án phí:
- Bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 240/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 240/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản"
