Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 240/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 268/2025/HNGĐST ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: R. LTD 29ACROPOLEOS STR; 2540 DALI, NICOSIA (Cộng hòa S). Vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H1, sinh năm 1988; Địa chỉ liên hệ: V1, số C, đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng).

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1989; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: 2F., N.251, S.2 Bade R. Z., Taipei C 104 101 Taiwan (R.O.C) (Đài Loan). Vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: ông Trần Duy V, sinh năm 1994; Địa chỉ: số 1, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/9/2024, Bản tự khai (có xác nhận của Đ tại I) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: A và chị Hoàng Thị M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 31/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2019, anh H đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa S. Năm 2020, chị M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do hoàn cảnh địa lý của anh H và chị M sống ở hai nước cách biệt, cuộc sống vợ chồng vốn đã tồn tại nhiều mâu thuẫn trước đó chưa thể giải quyết nên vợ chồng càng xa cách, ít khi liên lạc với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, thường xuyên xung đột nhau. Từ năm 2021 đến nay anh và chị M không còn liên hệ, trao đổi với nhau các vấn đề liên quan đến tình cảm vợ chồng. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh H yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Hoàng Thị M.

- Về con chung: Vợ chồng anh H và chị M không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do điều kiện công việc, hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Cộng hoà Síp nên không thể trực tiếp tham gia phiên toà, các buổi làm việc của Toà án nên anh H đề nghị được vắng mặt tại các phiên toà xét xử sơ thẩm, các buổi hoà giải, tiếp cận công khai chứng cứ, đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai ngày 07/3/2025 (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) bị đơn chị Hoàng Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị M thừa nhận chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, không tìm được tiếng nói chung do bất đồng về quan điểm sống và tính tình không hợp nhau. Năm 2019, anh H đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa S. Năm 2020, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do khoảng cách về địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nhiều năm nay, chị và anh H không còn chia sẻ nói chuyện và trao đổi với nhau về các vấn đề trong cuộc sống. Nay anh Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị và anh H không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do điều kiện công việc, hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên không thể trực tiếp tham gia phiên toà, các buổi làm việc của Toà án nên chị M đề nghị được vắng mặt tại các phiên toà xét xử sơ thẩm, các buổi hoà giải, tiếp cận công khai chứng cứ, đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H có đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 9 năm 2024 gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Hoàng Thị M. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị M đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh H đang sinh sống và làm việc tại địa chỉ R. LTD 29ACROPOLEOS STR; 2540 DALI, NICOSIA (Cộng hòa S) còn chị M đang sinh sống và làm việc tại 2F., N.251, S.2 Bade R. Z., Taipei C 104 101 Taiwan (R.O.C) (Đài Loan) nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải do hiện nay đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị M được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do khoảng cách địa lý quá xa, hai vợ chồng đang sinh sống tại hai đất nước khác nhau, từ đó xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống. Tại các bản tự khai, anh H và chị M đều thừa

nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh H yêu cầu giải quyết ly hôn và chị M đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.

[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai cả hai anh chị đều thừa nhận vợ chồng không có con chung nên Toà án không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, anh H và chị M đều H2 yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

[3]. Về án phí: Anh H và chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị M.
  2. Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị M không có con chung.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị M không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007680 ngày 11/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, trả lại cho anh Nguyễn Văn H 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Chị Hoàng Thị M phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị M chưa nộp).
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (theo Giấy ĐKKH số 94, quyển số 01/2015 ngày 31/7/2015);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn

  • Số bản án: 240/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa H và M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger