|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 240/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/3/2025 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP . HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Bảo
- Bà Trần Thị Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1291/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1991 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: G khu phố B, Thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Ông Võ Thanh H, sinh năm 1988 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 2 ấp A (ấp G cũ), xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Hiện đang chấp hành án tại Trại giam L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm N trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm N đăng ký kết hôn với ông Võ Thanh H tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, TP . ngày 18/11/2010 (Giấy chứng nhận kết hôn số 234, quyển số 01/2010). Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung ở xã X, đến năm 2013 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2016 do cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt nên bà N và ông H sống ly thân nhau. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, hai bên đều không thiện chí mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không còn thương yêu, lo lắng, chia sẻ, quan tâm đến nhau. Hiện nay theo bà N được biết ông H đang chấp hành án tại Trại giam L thuộc xã L, huyện B, tỉnh Long An. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà N và ông H có 01 con chung tên Võ Ngọc D, sinh ngày 27/12/2009. Hiện nay con chung đang sống chung với bà N. Trường hợp vợ chồng ly hôn, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/01/2025, bị đơn ông Võ Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: Ông H thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như bà Lê Thị Cẩm N trình bày là đúng. Ông H và bà N tự nguyện chung sống với nhau năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X vào ngày 18/11/2010. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 phát sinh mâu thuẫn do ông H phát hiện bà N có mối quan hệ với người khác, từ đó giữa hai vợ chồng luôn xảy ra xung đột, cãi vả, bất đồng ý kiến. Trong khoảng thời gian này ông H phải đi chấp hành án thì bà N có cuộc sống với người khác. Sau khi ông H chấp hành án xong trở về địa phương, ông H và bà N mỗi người đều có cuộc sống riêng, hai bên không còn tình cảm và không liên lạc nhau. Hiện nay ông H đang chấp hành án nhưng bà N vẫn không qua lại thăm nom ông H. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H đồng ý ly hôn với bà N. Do ông H đang chấp hành án tại Trại giam nên ông H đề nghị Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt ông H.
Về con chung: Ông H và bà N có 01 con chung tên Võ Ngọc D, sinh ngày 27/12/2009. Hiện nay con chung đang sống chung với bà N. Trường hợp vợ chồng ly hôn, ông H đồng ý giao bà N trực tiếp nuôi con và không cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông H vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận định:
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Võ Thanh H nên đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn ông Võ Thanh H cư trú trên địa bàn huyện H, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp . thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Bà Lê Thị Cẩm N (là nguyên đơn trong vụ án) và ông Võ Thanh H (là bị đơn trong vụ án) đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông H.
[3] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa cho thấy Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bà Lê Thị Cẩm N (là nguyên đơn trong vụ án) và ông Võ Thanh H (là bị đơn trong vụ án) đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bà N và ông H là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về hôn nhân: bà Lê Thị Cẩm N và ông Võ Thanh H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện H, TP . vào ngày 18/11/2010 (Giấy chứng nhận kết hôn số 234, quyển số 01/2010), do đó hôn nhân của bà N và ông H là hôn nhân hợp pháp. Nay bà N yêu cầu ly hôn ông H nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để giải quyết.
Bà N trình bày sau khi kết hôn đến năm 2013 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, đến năm 2016 do cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt nên bà N và ông H sống ly thân nhau. Hiện nay giữa bà N và ông H đã sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không còn chia sẻ, quan tâm đến nhau. Bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện, bà N không thể tiếp tục sống chung vợ chồng với ông H. Phía bị đơn ông H thừa nhận giữa vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ nhiều năm nay, hiện nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không liên lạc quan tâm đến nhau và cả hai bên không còn tình cảm với nhau, do đó ông H đồng ý ly hôn với bà N.
Xét thấy giữa bà N và ông H không còn tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Hiện nay mâu thuẫn giữa bà N và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không ai thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung: bà N và ông H có 01 con chung tên Võ Ngọc D, sinh ngày 27/12/2009.
Bà N yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy trẻ D hiện đang sống chung với bà N, phía ông H không có ý kiến gì đối với việc nuôi con của bà N và đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Tại Văn bản trình bày nguyện vọng của con đề ngày 07/12/2024, cháu Võ Ngọc D có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, việc bà N yêu cầu trực tiếp nuôi con là phù hợp với lợi ích của con và có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cần giao trẻ D cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Phía bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy việc không yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện nên tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với ông H cho đến khi có đơn yêu cầu của bà N.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: bà N và ông H đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về án phí: nguyên đơn bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 115, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm N và ông Võ Thanh H.
- Về nuôi con chung: bà N và ông H có 01 con chung tên Võ Ngọc D, sinh ngày 27/12/2009.
- Giao con chung là Võ Ngọc D, sinh ngày 27/12/2009 cho bà Lê Thị Cẩm N trực tiếp nuôi dưỡng.
- Tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với ông Võ Thanh H cho đến khi bà N có đơn yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà N và ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà Lê Thị Cẩm N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà N đã nộp theo biên lai số 0042710 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |
Bản án số 240/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 240/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
