|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:240/2024/HS-ST
Ngày: 10-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoà
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Huỳnh Văn Bé
- 2/ Ông Nguyễn Văn Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/HSST ngày 13/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh D. Giới tính: Nam. Sinh ngày 03 tháng 4 năm 1994. Nơi sinh: tỉnh Nam Định. Nơi thường trú: Số D đường B, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi tạm trú: Số I đường T - T, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Không rõ. Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961. Anh, chị, em ruột: 02 người, kể cả bị can. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 25/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm, căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 69; Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Nguyễn Thanh D 03 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 16/2011/HSST. Nguyễn Thanh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 03/11/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 16/2011/HSST ngày 25/8/2011 của òa án nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/2013 tại Trại giam T1, chưa đóng án phí.
Nhân thân: Ngày 29/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Nguyễn Thanh D 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2015 tại Trại giam T1 (bút lục 204-207, 175).
Bị can bị bắt theo quyết định truy nã, tạm giữ từ ngày 09/01/2024, đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Bà Trần Thị Bích Đ, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường T, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Số 92/6H ấp Mỹ Hoà 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Công ty TNHH Một thành viên X (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ông Lâm Hồng P (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 V, phường B, quận B, Tp Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/6/2022, Nguyễn Thanh D điều khiển xe mô tô biển số 59S2-536.24 đi từ xã T, huyện H, đến quán nước của bà Trần Thị Bích Đ tại Tỉnh lộ 15, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hỏi mua 03 trái dừa. Trong lúc chị Đ lấy dừa bán cho D thì D lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 để trên bàn ngay vị trí cửa quán. Lúc này, D kêu chị Đ để dừa tại quán rồi quay lại lấy sau và D lên xe bỏ đi. Chị Đ nghi vấn nên kiểm tra thì phát hiện bị mất điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 và gọi cho chồng là Hoàng Ngọc S đang làm tại Ấp A, xã T, huyện C biết sự việc, mô tả đặc điểm nhận dạng và hướng di chuyển của D. Anh S cùng một số người dân đứng chặn tại khu vực ngã ba Tỉnh lộ 15 và Đường số A thuộc Ấp A, xã T, huyện C thì phát hiện khống chế D cùng tang vật đưa về Công an xã T làm việc, xử lý theo quy định pháp luật. Cùng ngày, bà Đ làm đơn tố cáo Nguyễn Thanh D về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Kết luận định giá tài sản số 205 ngày 04/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động màu xanh hiệu Redmi Note 11, số I: 865504062574244 (tài sản đã qua sử dụng, thu hồi được), giá trị 3.500.000 đồng (bút lục số 124-125).
Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- 01 chiếc điện thoại di động màu xanh hiệu Redmi Note 11, số I: 865504062574244, có 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo, trong suốt.
- 01 chiếc xe gắn máy màu xanh, hiệu Yamaha Jupiter, biển số: 59S2-536.24, số máy: 5SD2-0184, số khung: 5SD2-018422;
- 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel, số Imei: 355634048887258;
- 01 thẻ nhớ 2GB màu đen, chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 124/CT - VKS.CC ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về án tích thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo chưa hết thời hiệu thi hành án của Bản án số 16/2011/HSST ngày 25/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre vì năm 2014 bị cáo đã phạm tội mới nên thời hạn thi hành án của bản án này chưa hết, do đó bị cáo còn chưa được xóa án tích đối với bản án này, đồng thời đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù giam
- Về vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel, số Imei: 355634048887258; đối với xe máy hiệu Yamaha Jupiter, biển số: 59S2-536.24, số máy: 5SD2-0184, số khung: 5SD2-018422 của ông Lâm Hồng P, ông P xác định đã bán xe và cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe cho Công ty TNHH một thành viên X nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- * Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H không có ý kiến yêu cầu gì đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- * Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm mong được xử phạt mức án thấp để bị cáo sớm về làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với vật chứng thu được, phù hợp với nội dung dữ liệu Camera ghi nhận hành vi của bị cáo và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy: Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 29/6/2022, Nguyễn Thanh D đã có hành vi lợi dụng lúc chị Trần Thị Bích Đ không để ý đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 rồi bỏ đi sau đó được quần chúng bắt giữ cùng tang vật. Trị giá tài sản theo kết luận định giá là 3.500.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- [3] Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì cần tiền tiêu sài thỏa mãn ham muốn bản thân mà bị cáo đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương nên cần phải áp dụng một mức phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
- [4] Về án tích: Đối với bản án số 236/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Thanh D 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo kháng cáo và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ số 867/HSPT-QĐ ngày 26/11/2014; Bản án sơ thẩm này bị cáo bị áp dụng tình tiết tái phạm; Tuy nhiên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Riêng đối với tiền án phí dân sự và hình sự đã được Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đình chỉ theo Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS ngày 09/10/2020 và theo công văn số 3504/CCTHADS ngày 22/7/2024; Đối với khoản tiền nghĩa vụ bồi thường trong bản án này thì theo công văn số 2167/CCTHADS ngày 30/7/2024 thể hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn không thụ lý thi hành khoản tiền bồi thường. Như vậy, từ ngày tuyên án đến nay là trên 10 năm, người có quyền thi hành án không làm đơn thi hành án nên đã hết thời hiệu thi hành án theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008sửa đổi 2014. Do đó, bị cáo đương nhiên được xóa án tích đối với bản án nêu trên.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với Bản án số 16/2011/HSST ngày 25/8/2011 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” trong bản án đã nhận định bị cáo “phạm tội nhiều lần” và áp dụng điểm g, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999; bị cáo kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử, đã ban hành Bản án số 125/2011/HSST ngày 03/11/2011 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sau đó, bị cáo phạm tội mới và ngày 29/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Nguyễn Thanh D 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay, cơ quan thi hành án quận T chưa thụ lý hồ sơ thi hành án đối với 02 bản án trên (theo công văn số 2350/CCTHADS ngày 17/5/2024 của C chục Thi hành án quận T và công văn số 232/CV-VKS ngày 02/8/2024), bị cáo chưa tự nguyện đóng tiền án phí nên chưa được xóa án tích. Mặt khác, bị cáo đã phạm tội mới năm 2014 nên thời hạn thi hành án của bản án của bản án năm 2011 là chưa hết, do đó bị cáo còn chưa được xóa án tích đối với bản án này năm 2011. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
- [7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel, số Imei: 355634048887258 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo
Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter, biển số: 59S2-536.24, số máy: 5SD2-0184, số khung: 5SD2-018422 chủ sở hữu là của ông Lâm Hồng P, ông P khai tại cơ quan điều tra là đã bán xe trên bằng giấy tay và đề nghị trả lại xe cho người đang trực tiếp sử dụng. Ông Nguyễn Thanh H thuê xe trên của Công ty TNHH một thành viên X nên cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện của Công ty TNHH một thành viên X; Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel, số Imei 1: 355634048887258, số Imei 2: 355634049888255
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/6/2022)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hòa |
Bản án số 240/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 240/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
