Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 30 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thắng và ông Hồ Văn Nhân.
-Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Phương Loan.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam, sinh ngày: 12/4/1973 tại: Quảng Bình; Số CCCD: [...], cấp ngày 24/02/2022. Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Hoàng Văn T1 (đã chết) và bà: Trần Thị S, sinh năm 1943; Hiện trú tại: thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Gia đình có 09 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1972; Có 02 người con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1995; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Trần Minh T2, sinh năm 1967, trú tại: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt và đã ủy quyền cho anh P).
  2. Anh Trần Minh V, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
  3. Chị Trần Thị Khánh L1, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt và đã ủy quyền cho anh P).
  4. Chị Trần Thị Khánh L2, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt và đã ủy quyền cho anh P).
  5. Anh Trần Minh P1, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị G, anh Trần Minh V, chị Trần Thị Khánh L1 và chị Trần Thị Khánh L2 (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Trương Hữu Đ, sinh năm: 1996; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có mặt).
  2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1972; Địa chỉ: thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
  3. Anh Phan Lê T3, sinh năm 1990; Địa chỉ thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Quang T4, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Chánh H, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T làm nghề lái xe tải nhưng không có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định. Để thuận tiện cho việc đi lại và đối phó với cơ quan chức năng trong quá trình lái xe, vào khoảng tháng 6 năm 2022 T đã liên hệ với một đối tượng tên “Đê” (không rõ nhân thân, lai lịch, ở khu vực chợ Đ1 phường P, thành phố H) đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng B2 giả mang tên mình với số tiền 5.300.000 đồng sau đó cất giữ trong người nhằm mục đích sử dụng để hành nghề lái xe khi có cơ quan chức năng kiểm tra.

Khoảng 01 giờ 00 ngày 11/11/2023, Hoàng Văn T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 73C - 010.91 lưu thông trên Quốc lộ A từ thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình vào chợ đầu mối P thuộc phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để chở hàng hóa. Đến khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày, T đi đến đoạn Km 806 + 670m thuộc thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là đoạn đường đôi được phân chia bằng dải phân cách cứng, thẳng, phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, hướng Quảng Trị - H có 02 làn đường, làn đường bên trái sát với dải phân cách rộng 3,5m và làn đường bên phải rộng 05m (không có vạch sơn kẽ đường phân chia làn xe cơ giới với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ). Lúc này, T điều khiển cho xe lưu thông trên làn đường bên phải, phía trước có ông Trần Minh T2 (sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) đang điều khiển xe đạp đi cùng làn, cùng chiều. Do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, khi phát hiện ông T2 đang ở khoảng cách gần, T đã mất bình tĩnh, không làm chủ được tay lái nên khi phanh lại T đã đạp nhầm chân ga khiến xe ô tô lao nhanh về phía trước tông vào phía sau xe đạp, làm cho ông Trần Minh T2 và xe đạp ngã xuống đường. Xe ôtô của T chạy thêm một đoạn theo quán tính thì rơi xuống hố (đang thi công) bên phải đường. T mở cửa thoát ra ngoài, đi bộ quay lại thấy ông T2 bị thương nặng, T đã nhờ mọi người ở gần xung quanh đưa ông T2 đi cấp cứu tại bệnh viện T5 (cơ sở 2).

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện. Quá trình làm việc với cơ quan công an, Hoàng Văn T đã xuất trình giấy phép lái xe giả hạng B2 mang tên mình để đối phó với cơ quan công an.

Ông Trần Minh T2 được điều trị cấp cứu tại Bệnh viện T5 (cơ sở 2) cho đến ngày 01/01/2024 thì chết.

*Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tạm giữ:

  • 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 73C - 010.91;
  • 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 73C - 010.91;
  • 01 (một) chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 73C - 010.91;
  • 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 22/12/2022 có giá trị đến ngày 22/12/2032, số phôi giấy phép lái xe là AS045213 mang tên Hoàng Văn T.
  • 01 (một) xe đạp đã bị hư hỏng sau tai nạn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc Quốc lộ A, là đường một chiều theo hướng Quảng Trị - Huế, bên trái là dải phân cách bằng bê tông, bên phải không có rào chắn và tường hộ lan, tiếp giáp với nhà dân và các cửa hàng kinh doanh. Mặt đường được thảm nhựa bằng phẳng rộng 8,5m, ở giữa có vạch sơn trắng dạng đứt quãng, chia đường thành 02 làn xe chạy, làn bên trái rộng 3,5m, làn bên phải rộng 5,0m. Từ đoạn Km 860 + 700 vào hướng Huế có thêm đường vạch sơn màu trắng liền nét, chia đường thành 02 làn xe dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,5m và 01 làn dành cho xe thô sơ bên phải rộng 1,5m. Phía sau cột mốc 806 + 700 là khoảng hở dải phân cách để các phương tiện qua lại ở giữa đường, còn bên phải là vùng đất đá được đào lên từ hố sâu (công trình thoát nước) bên đường. Đoạn từ Km 806 đến Km 807 là đoạn đường cong về bên phải, bị che khuất một phần tầm nhìn.

Lấy cột Km 806 + 700 đặt trên dải phân cách làm mốc khám nghiệm, lấy mép đường phải làm mép đường chuẩn, tiến hành khám nghiệm theo hướng Quảng Trị - Huế.

Cách điểm mốc về hướng Quảng Trị 9,8m tại đây kéo đường thẳng vuông góc dài 6,6m về hướng mép lề chuẩn, điểm này trùng với điểm đầu vết cà xước mặt đường và cách mép lề chuẩn 1,9m vết cà xước mặt đường bám dính kim loại có dạng đứt quãng trên diện dài 15,45m, đoạn rộng nhất 0,1m, có chiều hướng trượt Quảng Trị - H. Chếch dần về mép lề chuẩn, điểm cuối của dấu vết ccáh lề chuẩn 1,7m (vị trí số 1).

Cách điểm cuối dấu vết số 1 vào hướng Huế 4,55m và cách mép lề chuẩn 1,7m là điểm đầu vùng vỡ nhựa và kim loại trên diện dài 10,45m, rộng 1,95m nằm sát lề đường bên phải và trải dài theo hướng Quảng Trị - Huế, điểm cuối vùng vỡ cách mép đường chuẩn 0,8m (vị trí số 2).

Nằm trong khu vực vùng vỡ và cách điểm đầu vùng vỡ vào hướng Huế 3,4m, cách mép đường chuẩn 1,25m là điểm đầu vết chà màu đen còn ẩm ướt, có dính tóc dài 3,6m, rộng nhất 0,07m, chiều hướng trượt Quảng Trị - H, dạng liền nét và chếch dần về mép lề chuẩn, điểm cuối cách mép lề chuẩn 0,92m (vị trị số 3).

Cách điểm đầu dầu vết số 3 về hướng Huế 2,1m và cách mép lề chuẩn 1,9m là trục sau lốp xe đạp. Sau tai nạn xe ngả nghiêng qua trái, đầu xe hướng vào Huế, đuôi xe hướng ngược lại, trục xe cách mép lề chuẩn 1,7m (vị trí số 4).

Cách điểm cuối dấu vết số 2 về hướng Huế 2,0m và cách mép lề chuẩn 0,4m là vùng (nghi) máu kích thước (0,25 x 0,4)m, màu nâu đỏ, dạng vũng còn ẩm ướt (vị trí số 5).

Sau tai nạn xe ô tô tải biển kiểm soát 73C - 010.91 nằm trên hố sâu bên phải đường, xe nghiêng sang phải, đầu xe hướng Huế, đuôi xe hướng ngược lại, trục sau bên trái cách tậm vị trí số 5 về hướng Huế 9,2m (vị trí số 6).

Trên làn đường 1 chiều hướng Quảng Trị - H, từ vị trí điểm mốc (Km 806 + 700) về hướng Quảng Trị 310m trên bề mặt đường không có vạch sơn kẻ đường để phân chia làn đường danh cho xe thô sơ.

Sau tai nạn, cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm phương tiện

+ Đối với xe ô tô biển kiểm soát 73C - 010.91, ghi nhận như sau:

  • Cản trước bên phải phía dưới bị móp lún kim loại từ ngoài vào trong và bề mặt bị tróc sơn, kích thước (20 x 30)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 45cm, điểm gần nhất cách thành xe bên phải 22cm.
  • Dấu vết chà xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su tương tự cao su lốp xe đạp) trên vùng móp lín cản trước bên phải, kích thước dài 14cm, rộng 1,0cm.
  • Dấu vết bám dính 02 chất màu đỏ (dạng sơn tương tự màu sơn xe đạp) kích thước lần lượt (0,1 x 0,2) cm và (0,1 x 0,3) cm, nằm trên vùng móp lún cản trước bên phải.
  • Dấu vết làm sạch bụi bề mặt sơn kích thước (5 x 7) cm, nằm sát vùng móp lún cản trước bên phải.

+ Đối với xe đạp:

  • Đầu mút tay cầm bên trái phát hiện dấu vết trầy xước, xơ mới nhựa kích thước (3,0 x 3,0) cm.
  • Dấu vết bám dính chất màu xanh (dạng sơn màu xanh tương tự màu sơn đầu xe tải) trên các bộ phận kim loại mặt sau, phía dưới yên xe và trên phanh sau bên phải tất cả nằm trên diện (10 x 20)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 52cm.
  • Dấu vết rách lốp xe, bề mặt lăn lốp xe phía sau bị chà xước xơ mới cao su và bám dính chất màu xanh (dạng sơn màu xanh tương tự màu sơn đầu xe tải dài 26cm, rộng 3,0cm.
  • Dấu vết chà xước mài mòn kim loại vành xe phía sau dài 32cm, rộng 2,5cm, điểm gần nhất cách van ngược hướng tiến 68cm.

* Tại Bản kết giám định số 01-24/TT ngày 17/01/2024, Trung tâm giám định y khoa - pháp y, kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Minh T2:

  1. Các kết quả chính:
    • - Kết quả khám nghiệm.
    • + Chấn thương sọ não nặng: xuất huyết dưới nhện, phù não hai bán cầu.
    • + Gãy xương hàm dưới, xương đòn trái.
    • + Gãy xương đùi phải đang còn khung cố định ngoài.
    • + Suy đa tạng: hôn mê sâu, suy thận cấp, suy hô hấp thở máy qua lỗ khí quản dài ngày, loét ép tỳ đè mặt dưới cơ thể.
    • - Kết quả khác: không phát hiện các tổn thương bên ngoài khác.
  2. Kết luận: Chấn thương sọ não nặng, suy đa tạng không hồi phục do tai nạn giao thông.

Thời gian chết: khoảng 3 – 6 giờ so với thời điểm khám nghiệm.

* Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn và ma túy vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 11/11/2023 xác định: Hoàng Văn T không sử dụng ma túy và không có nồng độ cồn.

* Tại Bản kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 25/01/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Hoàng Văn T là giả.

* Tại Công văn số 3907/SGTVT-QLVT ngày 27/11/2023 Sở giao thông vận tải tỉnh Q đã trả lời: Sở giao thông vận tải tỉnh Q không cấp giấy phép hạng B2, số [...], số phôi AS045213, cấp ngày 22/12/2022 đối với ông Hoàng Văn T, sinh ngày 12/04/1973; nơi cư trú xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

* Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ôtô biển kiểm soát 73C - 010.91 đứng tên chủ sơ hửu là anh Phan Lê T3 (sinh năm 1990, trú tại V xã Q, huyện Q tỉnh Quảng Bình). Do không có nhu cầu sử dụng vào năm 2019 anh T3 đã bán lại xe này cho anh Nguyễn Quang T4 (sinh năm 1990, trú tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Trị). Ngày 25/10/2022, Hoàng Văn T đã mua xe này từ anh Nguyễn Quang T4 để làm phương tiện vận tải.

Ngày 07/02/2024, cơ quan điều tra Công an huyện P xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho các chủ sở hữu. Riêng 01 giấy phép lái xe hạng B2 là giấy phép lái xe giả nên tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc truy tố và xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Văn T đã thỏa thuận tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Trần Minh T2 số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Anh Trần Minh P1 (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã P huyện P, là con ông T2 được gia đình ông Trần Minh T2 ủy quyền) đã nhận tiền đầy đủ, không yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSPĐ ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Hoàng Văn T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề xuất xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù có thời hạn. Áp dụng Điều 55 để tổng hợp hình phạt của hai tội từ 20 tháng đến 27 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy giấy phép lái xe giả đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Vào khoảng tháng 06 năm 2022, tại khu vực chợ Đ1 phường P, thành phố H, Hoàng Văn T đã liên hệ với một đối tượng tên “Đê” (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua 01 giấy phép lái xe giả hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Văn T với số tiền 5.300.000 đồng sau đó cất giữ trong người nhằm mục đích sử dụng khi hành nghề lái xe.

Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 11/11/2023, tại đoạn Km 806 + 670m thuộc thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Hoàng Văn T mang theo giấy phép lái xe giả hạng B2 số [...], điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 73C - 010.91, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đi phía trước Hoàng Văn T đã để xe ô tô do mình điều khiển tông vào phía sau xe đạp do ông Trần Minh T2 điều khiển gây tai nạn làm ông T2 chết. Hành vi của Hoàng Văn T đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ gây tai nạn làm chết một người. Lỗi hoàn toàn thuộc về Hoàng Văn T. Ngay sau đó T tiếp tục có hành vi xuất trình giấy phép lái xe giả để đối phó với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được pháp luật và xã hội. Bị cáo biết việc sử dụng giấy tờ giả (giấy phép lái xe ô tô) với mục đích hành nghề lái xe trái phép và khi điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ mà chưa có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng vẫn điều khiển xe ô tô để tham gia giao thông và gây ra hậu quả nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại do mình gây ra; Ngoài ra người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điểm b, s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo một mức hình phạt thấp hơn ở mức hình phạt liền kề. Xét bị cáo trước đó chưa vi phạm pháp luật; với hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả là vi phạm pháp luật về chức năng quản lý con dấu, giấy tờ của cơ quan nhà nước, nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên áp dụng Điều 36 và điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo với hình phạt cải tạo không giam giữ và không khấu từ thu nhập do bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận bồi thường đủ và không yêu cầu bồi thường thêm vì vậy hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng : Tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Hoàng Văn T.

Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (Hai) năm tù, về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • - Áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội là: 02 năm tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". + (06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù có thời hạn = 02 tháng tù). Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (08/3/2024).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Hoàng Văn T. Theo biên bản giao, nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/7/2024, tang vật đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT – Huế;
  • - PV06 Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - THADS huyện Phong Điền;
  • - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HSVA và THAHS;
  • - Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hòang V T vi phạm quy định giao thông đường bộ và sử dụng giấy tờ giả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger