Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 tháng 7 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thị, bà Vương Thị Thu

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị P, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu G, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Bá Ư, sinh năm 1971

Địa chỉ: Khu G, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị P, anh Ư có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Vũ Thị P trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá Ư kết hôn với nhau vào ngày 31/12/1991 tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị ở riêng tại xã K, huyện T. Vợ chồng hạnh phúc được 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hoà hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị và anh Ư đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bá Ư.

    - Bị đơn anh Nguyễn Bá Ư trình bày: Về thời gian kết hôn như chị P trình bày là đúng. Vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị P có nhiều mối quan hệ bên ngoài, thường xuyên đi về khuya, không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, xảy ra cãi chửi nhau. Anh và chị P đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn chị P.

  2. Về con chung: Chị P và anh Ư xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Việt Trang A, sinh ngày 27/8/1995 và Nguyễn Việt A, sinh ngày 08/6/1998. Hai con chung đều đã thành niên nên chị P và anh Ư không yêu cầu Toà án giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp: Chị P và anh Ư không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Tòa án xác minh tại nơi cư trú của anh Ư, nội dung xác minh thể hiện như sau:

Chị Vũ Thị P và anh Nguyễn Bá Ư kết hôn với nhau vào ngày 31/12/1991 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai bên ở riêng tại xã K. Quá trình chung sống, chị P và anh Ư hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hoà hợp nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ tháng 02/2024 đến nay, chị P và anh Ư đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau .

Chị P và anh Ư có 02 con chung là Nguyễn Việt Trang A, sinh ngày 27/8/1995 và Nguyễn Việt A, sinh ngày 08/6/1998 đều đã thành niên.

Tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Vợ chồng chị P và anh Ư có hay không thì không nắm được.

Nay chị P xin ly hôn anh Ư, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, thực tế hiện nay vợ chồng đang sống ly thân.

- Phát biểu của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và nguyên đơn dân sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị P, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị P được ly hôn anh Ư.

Về con chung: Chị P và anh Ư 02 con chung là Nguyễn Việt Trang A, sinh ngày 27/8/1995 và Nguyễn Việt A, sinh ngày 08/6/1998 đều đã thành niên nên không giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị P phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét thấy anh Nguyễn Bá Ư cư trú tại xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nay chị Vũ Thị P xin ly hôn anh Ư nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P và anh Nguyễn Bá Ư đăng ký kết hôn ngày 31/12/1991. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh Ư là hợp pháp. Xét thấy, chị P và anh Ư sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Toà án xác minh tại nơi cư trú của chị P, anh Ư thì tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh Ư không được hạnh phúc, hiện nay hai bên đang sống ly thân. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh Ư mâu thuẫn rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P về việc xin ly hôn anh Ư là có căn cứ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P nên xử cho chị P được ly hôn anh Ư.

[3] Về con chung: Chị P và anh Ư có 2 con chung là Nguyễn Việt Trang A, sinh ngày 27/8/1995 và Nguyễn Việt A, sinh ngày 08/6/1998 đều đã thành niên nên không giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không quyết tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Vũ Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị P về việc xin ly hôn anh Nguyễn Bá Ư. Xử cho chị Vũ Thị P được ly hôn anh Nguyễn Bá Ư.
  3. Về con chung: Chị P và anh Ư có 2 con chung là Nguyễn Việt Trang A, sinh ngày 27/8/1995 và Nguyễn Việt A, sinh ngày 08/6/1998 đều đã thành niên nên không giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Vũ Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001915 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba (Xác nhận chị P đã nộp đủ 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm).
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Ba;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Ba
  • - UBND xã Khải Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - Lu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa

(đã ký)

Trần Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger