Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ngọc Lan

2. Ông Trần Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 10 năm 1993 tại: Thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn S, S1 năm 1973, Hiện ở thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Mẹ đẻ: Bùi Thị Y, S1 năm 1975, Hiện ở khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Không; Vợ: Bùi Thị O, sinh năm 1998; Con: 02 con. Con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

2. Họ và tên: La Văn T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày28 tháng 11 năm 2002 tại: Huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở: Khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Tuyên không đăng ký tạm trú); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: La Văn X, Sinh năm 1976; Mẹ đẻ: Hoàng Thị K, Sinh năm 1978; Cả bố và mẹ đều ở xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt)

3. Họ và tên: Hoàng Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 9 năm 2005 tại: Huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở: Khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Hiên không đăng ký tạm trú); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn K1, Sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B; Sinh năm 1964; Cả bố và mẹ đều ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1992. ( vắng mặt)

Địa chỉ: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Khu Dân Cư P, phường P, T, tỉnh Phú Thọ.

2. Anh Phạm Trung K2, sinh năm 2003.

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

3. Anh La Văn B1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Ông A, anh K2, Anh B2 đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024 tại khu vực đường B kéo dài thuộc khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ phát hiện bị cáo La Văn T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Ngay lúc này do hoảng sợ nên bị cáo T đã thả từ lòng bàn tay phải của T xuống đất, ngay tại chỗ T đứng 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuốn lại và buộc bên ngoài bằng dây của khẩu trang. Sau đó T đã tự giác lấy từ dưới đất nơi bị cáo T đứng giao nộp cho tổ công tác 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuốn lại và buộc bên ngoài bằng dây của khẩu trang. Trước sự chứng kiến của mọi người, tổ công tác mở chiếc khẩu trang ra kiểm tra bên trong có 02 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu đều có mép vuốt bịt kín, đều có viền kẻ màu đỏ, bên trong cả 02 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng, bị cáo T khai nhận đây là ma túy Tobaco của T cất giữ để bán. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T số tiền 600.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro, màu xanh, đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt vỡ nhiều vị trí, có gắn sim số 0978456323 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại VARIO màu trắng đen, đã cũ, biển kiểm soát 22T1 – 017.75. Xe không có giá để hàng và gương chiếu hậu, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và niêm phong số ma túy thu giữ của T theo quy định.

Ngay trong ngày 09/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của La Văn T tại khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ 01 hộp giấy hình chữ nhật mặt ngoài màu đen bên trong có 06 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu đều có mép vuốt bịt kín, đều có viền kẻ màu đỏ, bên trong cả 06 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng. Cơ quan điều tra đã niêm phong 06 túi nilon theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo La Văn T khai nhận 02 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng bị thu giữ khi kiểm tra và 06 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp là ma túy Tobaco của T cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo T đã bán 01 lần cho Hoàng Văn H sinh năm 2005, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời bị cáoTuyên khai nguồn gốc số ma túy trên bị cáo T mua của bị cáo Nguyễn Tuấn A.

Căn cứ lời khai của bị cáo T, cơ quan điều tra triệu tập Hoàng Văn H đến làm việc. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị rạn vỡ, số sê ri: F71SR7Q7HG7J, gắn 01 thẻ sim số 0356673250. Ngày 10/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn H tại khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Đối với Nguyễn Tuấn A, đến ngày 12/01/2024 cơ quan điều tra mới triệu tập được A. Cùng ngày 12/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tuấn A tại khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa sợi thực vật khô màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số 0846898666. Số ma túy này Tuấn A cất giữ để sử dụng cho bản thân và để bán kiếm lời.

Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể như sau:

Bị cáo La Văn T và bị cáo Hoàng Văn H có mối quan hệ quen biết xã hội, đều là công nhân làm việc tại khu công nghiệp P, bị cáo La Văn T thuê phòng trọ tại khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo Hoàng Văn H thuê phòng trọ tại khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên bị cáo T và bị cáo H đều không đăng ký tạm trú.

Do mối quan hệ quen biết xã hội nên bị cáo T biết Tuấn A có ma túy tobaco bán. Khoảng gần 11 giờ ngày 01/01/2024 do muốn mua ma túy T2 về bán kiếm lời nên bị cáo T dùng số điện thoại 0978.456.xxx gọi đến số điện thoại 0846.898.xxxcủa Nguyễn Tuấn A hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy Tobaco. Tuấn A đồng ý và bảo T chuyển tiền vào số tài khoản 0966141123 mở tại ngân hàng M mang tên Nguyễn Tuấn A. Bị cáo T dùng số tài khoản 1041979783, mở tại ngân hàng V mang tên bị cáo La Văn T chuyển 1.500.0000 đồng vào số tài khoản của Tuấn A. Sau đó, T đi xe máy một mình ra ngã ba km 7, theo sự chỉ dẫn của Tuấn A, bị cáo T đến cổng làng khu 9, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ rồi đợi ở đó. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, Tuấn A đi ra gặp và đưa cho bị cáo T một túi nilon màu hồng bên trong có chứa sợi thực vật khô màu vàng là ma túy Tobaco. Sau khi có ma túy bị cáo T đi về phòng trọ chia ra thành nhiều túi nhỏ cất trong hộp giấy cát tông để dưới gầm giường trong phòng trọ của bị cáo T với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ cùng ngày 06/01/2024 H sử dụng Messenger Facebook “Hiên Hoàng” liên lạc với Messenger F “La Văn Tuyên” của T hỏi mua 160.000 đồng ma túy Tobaco. Bị cáo T đồng ý và hẹn gặp ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ đầu cổng làng L thuộc khu H xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau đó H một mình đi bộ ra điểm hẹn, thấy bị cáo T đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại VARIO màu trắng đen, đã cũ, biển kiểm soát 22T1 – 017.75 đến. Tại đây, H đưa cho bị cáo T 160.000 đồng, bị cáo T cầm tiền rồi đưa lại cho H 01 túi nilon màu trắng, loại túy zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ, bên trong có chứa sợi thực vật khô màu vàng là ma túy Tobaco. Sau khi mua được ma túy, H về phòng trọ và lấy một ít ma túy từ túi ma túy mua của T ra sử dụng cho bản thân. Sau đó mang theo túi ma túy này đến công ty J thuộc khu G xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ với mục đích để sử dụng tiếp. Đến khoảng gần 01 giờ ngày 07/01/2024, sau khi được nghỉ ăn đêm, H lấy túi Tobaco ra để sử dụng. Lúc này có Nguyễn Duy T1, sinh năm 1992 trú tại khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là bạn làm cùng công ty với H nên H rủ anh T1 sử dụng ma túy nhưng T1 từ chối do đang trong giờ làm việc. Đến khoảng hơn 04 giờ sáng cùng ngày, T1 dùng Messenger Facebook "Ng Duy T3" nhắn tin vào Messenger Facebook “Hiên Hoàng” của H trao đổi về việc bảo H bán lại túi T2 mà H đang sử dụng dở nhưng lúc đó H không cầm điện thoại nên không trả lời. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, sau khi tan ca làm đêm, T3 gặp H và hỏi mua túi T2. H đồng ý và báo giá 200.000 đồng. T3 dùng số tài khoản 101879724027, mở tại ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Duy T1 chuyển 200.0000 đồng vào số tài khoản 67756646789 của bị cáo Hoàng Văn H và chụp lại ảnh chuyển tiền gửi qua Messenger Facebook cho H. Sau khi nhận tiền bị cáo H đã đưa cho T1 01 túi ma túy Tobaco. T1 cầm túi ma túy T2 rồi đi về nhà và sử dụng một mình hết. Đối với số ma túy còn lại của bị cáo T, ngày 09/01/2024 bị cáo T mang theo người 02 túi ma túy với mục đích để ai hỏi mua thì bán nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan công an thu giữ như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo La Văn T, bị cáo Hoàng Văn H, bị cáo Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Duy T1 đã khai nhận hành vi mua, bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Đồng thời T, H và Tuấn A đều khai nhận số tiền bán trái phép chất ma túy, các bị can đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 09/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu phòng K3 Công an tỉnh P giám định các mẫu vật thu giữ được khi kiểm tra trên người và khám xét khẩn cấp chỗ ở của La Văn T. Tại kết luận giám định số 73/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K3 công an tỉnh P đã kết luận: Sợi thực vật khô màu vàng chứa trong 02 túi nilon niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi kiểm tra La Văn T gửi đến giám định có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, có tổng khối lượng là 7,355 gam. Sợi thực vật khô màu vàng chứa trong 06 túi nilon niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét chổ ở của La Văn T gửi đến giám định có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, có tổng khối lượng là 24,844 gam.

MDMB-4en-PINACA là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 241, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Hiện tại chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy trên nên không xác định được hàm lượng và khối lượng của MDMB-4en-PINACA trong các mẫu gửi giám định.

H1 lại đối tượng giám định: Bì giấy niêm phong ghi vật chứng thu giữ của La Văn T,trả lại 5,347gam sợi thực vật khô màu vàng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; Bì giấy niêm phong ghi vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của La Văn T,trả lại 21,326gam sợi thực vật khô màu vàng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định...

Ngày 12/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu phòng K3 Công an tỉnh P giám định các mẫu vật thu giữ được khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn A. Tại kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K3 công an tỉnh P đã kết luận: Sợi thực vật khô màu vàng trong 01 túi nilon màu trắng trong hộp niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 289,769 gam, loại MDMB-4en-PINACA.

MDMB-4en-PINACA là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 241, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

H1 lại đối tượng giám định: Sau khi trích mẫu giám định đã trả 279,790 gam sợi thực vật khô màu vàng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định...

Ngày 02/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C giám định bổ sung chất ma túy thu giữ của bị cáo La Văn T và bị cáo Nguyễn Tuấn A. Tại bản kết luận giám định số 978/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của V2 Bộ C đã kết luận: Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu 5,347 gam sợi thực vật khô màu vàng (mẫu trong bì niêm phong số 73/KL-KTHS) gửi giám định là 0,51%; Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu 21,326 gam sợi thực vật khô màu vàng (mẫu trong bì niêm phong số 73/KL-KTHS) gửi giám định là 0,55%; Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu 279,790 gam sợi thực vật khô màu vàng (mẫu trong bì niêm phong số 80/KL-KTHS) gửi giám định là 0,58%.

H1 lại đối tượng giám định: Đối tượng sau giám định và các vỏ bao gói được hoàn trả lại trong niêm phong số 978/KL-KTHS theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

Sau khi trích mẫu giám định đã trả 279,790 gam sợi thực vật khô màu vàng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định...

Do các bị cáo La Văn T, Hoàng Văn H, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Duy T1 đều khai nhận trước đó đã sử dụng ma túy nên cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm ma túy đối với các đối tượng này. Tuy nhiên kết quả xét nghiệm thể hiện các đối tượng đều âm tính với ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp và số ma túy bán cho bị cáo T, Nguyễn Tuấn A khai nhận:

Do bản thân muốn kiếm tiền từ việc bán ma túy nên khoảng tháng 10 năm 2023 (không nhớ rõ ngày cụ thể) Tuấn A đăng nhập ứng dụng Telegram vào một hội nhóm không nhớ rõ tên (do tên hội nhóm này có ký tự đặc biệt và chữ nước ngoài). Tuấn A thấy có một tài khoản đăng bán ma túy T4 nên gọi cho tài khoản này và đặt mua 4.000.000 đồng ma túy Tobacco. Người này đồng ý và bảo Tuấn A đọc địa chỉ để gửi xe khách về. Đến chiều tối cùng ngày (không nhớ rõ ngày cụ thể), theo chỉ dẫn của người này, Tuấn A liên hệ với một xe khách (không nhớ tên, biển kiểm soát), ra ngã ba G thuộc khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nhận 01 hộp bìa giấy cát tông đồng thời thanh toán số tiền là 4.000.000 đồng cho nhà xe. Về đến nhà Tuấn A mở hộp giấy ra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong túi nilon có chứa sợi thực vật khô màu vàng là ma túy Toabcco. Sau khi mua được ma túy, Tuấn A xóa tài khoản telegram và cất túi ma túy này vào tủ quần áo trong nhà rồi thỉnh thoảng lấy ra sử dụng cho bản thân. Ngày 01/01/2024 Tuấn A đã lấy một phần ma túy Tobaco sẻ ra để bán cho T, số ma túy còn lại bị cơ quan công an thu giữ khi khám xét khẩn cấp như đã nêu trên.

Đối với người bán ma túy cho Tuấn A, do thông tin về đối tượng không cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.

Các bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng nhưng La Văn T và Hoàng Văn H không có nơi cư trú rõ ràng nên Cơ quan điều tra Công an thị xã P đã ra lệnh tạm giam đối với T và H.

Về vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro có gắn sim số 0978456323 của La Văn T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7, có gắn sim số 0356673250 của Hoàng Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro có gắn im số 0846898666 của Nguyễn Tuấn A, quá trình điều tra xác định đây là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày và sử dụng liên lạc mua bán ma túy Tobacco.

01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe VARIO màu trắng đen, đã cũ, biển kiểm soát 22T1 – 017.75 là tài sản của La Văn T. Qúa trình sử dụng T đã làm mất đăng ký xe mô tô. T sử dụng xe mô tô để đi lại hàng ngày và để đi mua bán ma túy Tobacco.

Số tiền 600.000đ là tiền của T do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội. 01 hộp giấy cát tông T sử dụng để đựng ma túy. 01 chiếc khẩu trang màu trắng của T, sử dụng để gói ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động của T1 dùng để liên lạc mua ma túy với H, T1 đã đánh rơi, cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo là lao động tự do, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

Tại phiên tòa bị cáo La Văn T khai nhận: Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024 tại khu vực đường B kéo dài thuộc khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ với Công an phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ yêu cầu kiểm tra đối với tôi. Do hoảng sợ nên bị cáo đã thả từ lòng bàn tay phải của bị cáo xuống đất, ngay tại chỗ bị cáo đứng có 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuốn lại và buộc bên ngoài bằng dây của khẩu trang. Sau đó bị cáo đã tự giác lấy từ dưới đất nơi bị cáo đứng giao nộp cho tổ công tác 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuốn lại và buộc bên ngoài bằng dây của khẩu trang. Trước sự chứng kiến của mọi người, tổ công tác mở chiếc khẩu trang ra kiểm tra bên trong có 02 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu đều có mép vuốt bịt kín, đều có viền kẻ màu đỏ, bên trong cả 02 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng, đây là ma túy Tobaco của bị cáo cất giữ để bán. Tổ công tác còn thu giữ của bị cáo số tiền 600.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro, màu xanh, đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt vỡ nhiều vị trí, có gắn sim số 0978456323 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại VARIO màu trắng đen, đã cũ, biển kiểm soát 22T1 - 017.75. Xe không có giá để hàng và gương chiếu hậu, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì. Ngày 09/1/2024 tổ công tác khi khám xét nơi ở của bị cáo tại khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác thu giữ 01 hộp giấy hình chữ nhật mặt ngoài màu đen bên trong có 06 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu đều có mép vuốt bịt kín, đều có viền kẻ màu đỏ, bên trong cả 06 túi nilon đều có chứa sợi thực vật khô màu vàng là ma túy Tobaco của bị cáo cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo đã bán 01 lần cho H. Nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của Nguyễn Tuấn A ở huyện P. Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H khai nhận: Tôi thấy bị cáo T trình bày trên là đúng, bị cáo mua của bị cáo T 160.000 đồng ma túy T2. Sau khi mua được ma túy, bị cáo về phòng trọ và lấy một ít ma túy từ túi ma túy mua của T ra sử dụng cho bản thân. Sau đó mang theo túi ma túy này đến công ty J với mục đích để sử dụng tiếp. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, sau khi tan ca làm đêm, T1 gặp bị cáo và hỏi mua túi T2. Bị cáo đồng ý và báo giá 200.000 đồng. T1 dùng số tài khoản 101879724027, mở tại ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Duy T1 chuyển 200.0000 đồng vào số tài khoản 67756646789 của bị cáo. Sau khi nhận tiền bị cáo đã đưa cho T1 01 túi ma túy Tobaco. Khi bị cáo đến làm việc tại cơ quan điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị rạn vỡ, số sê ri: F71SR7Q7HG7J, gắn 01 thẻ sim số 0356673250. Ngày 10/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận: Khoảng gần 11 giờ ngày 01/01/2024, T dùng số điện thoại 0978.456.xxx gọi đến số điện thoại 0846.898.xxx của bị cáo hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy Tobaco. Bị cáo đồng ý và bảo T chuyển tiền vào số tài khoản 0966141123 mở tại ngân hàng M mang tên Nguyễn Tuấn A. T dùng số tài khoản 1041979783, mở tại ngân hàng V mang tên La Văn T chuyển 1.500.0000 đồng vào số tài khoản của bị cáo. Sau đó, T đi xe máy một mình ra ngã ba km 7, theo sự chỉ dẫn của bị cáo, T đến cổng làng khu 9, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ rồi đợi ở đó. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, bị cáo đi ra gặp và đưa cho T một túi nilon màu hồng bên trong có chứa sợi thực vật khô màu vàng là ma túy Tobaco. Ngày 12/01/2024 cơ quan điều tra triệu tập bị cáo lên làm việc. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo tại khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa sợi thực vật khô màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số 0846898666. Số ma túy này bị cáo cất giữ để sử dụng cho bản thân và để bán kiếm lời. Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSTXPT ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T và Hoàng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T và Hoàng Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt Nguyễn Tuấn A mức án từ 25 năm 27 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt La Văn T mức án từ 25 năm 27 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/01/2024.

Xử phạt Hoàng Văn H mức án từ 24 năm 26 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 hộp niêm phong số 978/KL-KTHS của V2 Bộ C cùng 01 hộp giấy hình chữ nhật mặt ngoài màu đen, kích thước khoảng 31x20x11 (Chiều dài, rộng, cao) trên hộp có dán giấy màu trắng in nhiều chữ và số màu đen, trong đó có số và chữ 210B01, mặt bên trong hộp giấy có màu nâu; 01 chiếc khẩu trang màu trắng và thẻ sim số 0978456323 của La Văn T, thẻ sim số 0356673250 của Hoàng Văn H, thẻ sim số 0846898666 của Nguyễn Tuấn A.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Tuấn A số tiền 1.500.000đ, truy thu của bị cáo La Văn T số tiền 160.000đ, truy thu của bị cáo Hoàng Văn H số tiền 200.000₫ để nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO màu trắng, đen, đã cũ, số khung: MH1KF4117KK563702, số máy: KF41E1564208, biển kiểm soát: 22T1 – 017.75 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro, màu xanh, đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt vỡ nhiều vị trí của La Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị rạn vỡ của Hoàng Văn H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Tuấn A.

Trả lại số tiền 600.000đ cho bị cáo La Văn T do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử, xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.

[2] Đánh giá chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Khoảng hơn 11 giờ ngày 01/01/2024 tại cổng làng khu 9, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 túi ma túy MDMB-4en-PINACA cho La Văn T với giá 1.500.000 đồng. Đồng thời bị cáo Nguyễn Tuấn A đã tàng trữ 289,769 gam MDMB-4en-PINACA, hàm lượng 0,58% với mục đích để bán, bị cơ quan công an thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở tại khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 12/01/2024. Khoảng 16 giờ này 06/01/2024, tại cổng làng L thuộc khu H xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo La Văn T đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 túi ma túy cho bị cáo Hoàng Văn H với giá 160.000 đồng. Đồng thời bị cáo La Văn T đã tàng trữ 7,355 gam MDMB-4en-PINACA,hàm lượng 0,51% và 24,844 gam MDMB-4en-PINACA, hàm lượng 0,55% với mục đích để bán, bị cơ quan công an thu giữ khi kiểm tra và khám xét khẩn cấp chỗ ở tại khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ ngày 09/01/2024. Khoảng 05 giờ ngày 07/01/2024 tại công ty J khu công nghiệp P, thuộc khu G xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Hoàng Văn H đã bán trái phép 01 túi ma túy ma túy MDMB-4en-PINACA cho Nguyễn Duy T1 với giá 200.000 đồng. Như vậy, các bị cáo Anh, T và H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo A, bị cáo T, bị cáo H và Nguyễn Duy T1 đều khai nhận bản thân trước đó đã sử dụng trái phép ma túy Tobaco trước khi bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P phát hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy Tobaco. Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo A, bị cáo T, bị cáo H và T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng/mỗi người là phù hợp với quy định pháp luật.

Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T, Hoàng Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để các bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của các bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo thì cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T và Hoàng Văn H, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đồng thời chỉ cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, không có tài sản giá trị, bị cáo T có tài sản bị thu giữ trong quá trình điều tra là 600.000₫ nhưng số tiền ít. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

[5]. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ:

Đối với 01 hộp niêm phong số 978/KL-KTHS của V2 Bộ C, bên trong chứa: 01 túi mã số PS3A, số 73/KL-KTHS bên trong chứa 5,012 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, 21,033 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, các vỏ bao gói; 01 hộp giấy số 80/KL-KTHS bên trong chứa 277,790 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, các vỏ bao gói đây là vật chứng được hoàn lại sau khi đã giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 hộp giấy cát tông hình chữ nhật mặt ngoài màu đen kích thước khoảng 31x20x11 (chiều dài, rộng, cao) trên hộp có dán giấy màu trắng in nhiều chữ và số màu đen, trong đó có số và chữ 210B01, bên trong hộp giấy có màu nâu của bị cáo T sử dụng để đựng ma túy, 01 chiếc khẩu trang màu trắng của bị cáo T sử dụng để gói ma túy; sim số 0978456323 của bị cáo T, sim số 0356673250 của bị cáo H, 01sim số 0846898666 của bị cáo A dùng để trao đổi mua bán ma túy là các đồ vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro màu xanh, đã cũ, màn hình điện thoại bị vỡ nhiều vị trí, số IMEI: 356681111448277 của bị cáo T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7 màu hồng đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị dạn vỡ, số sê ri: F71SR7Q7HG7J của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 353836106462419 của bị cáo A. Quá trình điều tra xác định bị cáo A, bị cáo T và bị cáo H dùng để trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe VARIO màu trắng đen, đã cũ, biển kiểm soát 22T1 - 017.75 là tài sản của bị cáo La Văn T. Quá trình sử dụng bị cáo T đã làm mất đăng ký xe mô tô. Bị cáo T sử dụng xe mô tô để đi mua bán ma túy Tobacco nên cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 1.500.000đ bị cáo A thu được từ việc bán ma tuý cho bị cáo T và số tiền 160.000đ bị cáo T thu được từ việc bán ma tuý cho bị cáo H và số tiền 200.000đ bị cáo H thu được từ việc bán ma tuý cho T1 cần truy thu của các bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 600.000đ là tiền của bị cáo T do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Đối với chiếc điện thoại di động của T1 dùng để liên lạc mua ma túy với bị cáo H, T1 đã đánh rơi, cơ quan điều tra không thu hồi được nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T và Hoàng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 25 ( hai mươi lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo được trừ số ngày đã bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024 . Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo La Văn T 25 (hai mươi lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 09/01/2024.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 09/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy: 01 hộp niêm phong số 978/KL-KTHS của V2 Bộ C, bên trong chứa: 01 túi mã số PS3A, số 73/KL-KTHS bên trong chứa 5,012 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, 21,033 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, các vỏ bao gói; 01 hộp giấy số 80/KL-KTHS bên trong chứa 277,790 gam mẫu sợi thực vật màu vàng, các vỏ bao gói, 01 hộp giấy cát tông hình chữ nhật mặt ngoài màu đen kích thước khoảng 31x20x11 (chiều dài, rộng, cao) trên hộp có dán giấy màu trắng in nhiều chữ và số màu đen, trong đó có số và chữ 210B01, bên trong hộp giấy có màu nâu; 01 chiếc khẩu trang màu trắng và 01 sim số 0978456323 của bị cáo La Văn T, 01 sim số 0356673250 của bị cáo Hoàng Văn H, 01 sim số 0846898666 của bị cáo Nguyễn Tuấn A.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Tuấn A số tiền 1.500.000đ, truy thu của bị cáo La Văn T số tiền 160.000đ, truy thu của bị cáo Hoàng Văn H số tiền 200.000₫ để nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO màu trắng, đen, đã cũ, số khung: MH1KF4117KK563702, số máy: KF41E1564208, biển kiểm soát 22T1 – 017.75 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro, màu xanh, đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt vỡ nhiều vị trí của bị cáo La Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị rạn vỡ của bị cáo Hoàng Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Tuấn A.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 23/04/2024).

Trả lại cho bị cáo La Văn T số tiền 600.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn A, La Văn T và Hoàng Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Viện KSND thị xã Phú Thọ;
  • - Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tiên Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND xã Đội Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Các bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Hà

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger