Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Thành và bà Võ Thị Thơ.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Thị Hồng H, sinh năm 1982 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê K (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1956; có chồng là ông Phùng Duy M, sinh năm 1980 và 02 người con, lớn nhất 17 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  2. Trần Thị Kim P, sinh năm 1962 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P1 (đã chết); có chồng là ông Lê Thanh P2, sinh năm 1957 và 01 người con 29 tuổi; tiền sự: Không có; tiền án: Ngày 06/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  3. Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1982 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá K1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1963; có chồng là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983 và 03 người con, lớn nhất 20 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  4. Huỳnh Thị Ngọc C, sinh năm 1971 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1937 và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); có chồng là ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và 04 người con, lớn nhất 30 tuổi, nhỏ nhất 18 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  5. Nguyễn Thị Kim P3, sinh năm 1968 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N1 (đã chết) và bà Trần Thị N2 (đã chết); có chồng là ông Nguyễn P4, sinh năm 1967 và 03 người con, lớn nhất 36 tuổi, nhỏ nhất 29 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  6. Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1978 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tấn T3, sinh năm 1948 và bà Phan Thị X, sinh năm 1950; có chồng là ông Ngô Quang N3, sinh năm 1974 và 03 người con, lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 17 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  7. Nguyễn Đình K3, sinh năm 1977 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn X1 (đã chết) và bà Đoàn Thị T4 (đã chết); có vợ là bà Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1978 và 02 người con, lớn nhất 26 tuổi, nhỏ nhất 24 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  8. Nguyễn Thị T6, sinh năm 1980 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Công chức Tư pháp; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Đ (đã chết) và bà Tống Thị C2 (đã chết); có chồng là ông Lê Thành D1, sinh năm 1978 và 01 người con 23 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Hồng H là chủ nhà, ở thôn H, xã H, huyện N. H chuẩn bị sẵn 32 bộ bài tứ sắc, 02 tấm vải lót nền, chén và cho nhiều người đánh bạc trái phép được thua bằng tiền tại nhà mình để thu tiền xâu. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, khi H đang ở nhà thì Nguyễn Đình K3, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim P3, Nguyễn Thị T6 đến rồi lập thành chiếu bạc thứ nhất đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Khoảng 30 phút sau, Huỳnh Thị Ngọc C, Lê Thị Ngọc D, Đinh Thị Thu H2 cũng đến nhà H. H2 vào thế chỗ của P3 đánh bạc cùng với K3, P, T6. Còn P3 cùng với H, C, D lập thành chiếu bạc thứ 2. Cả hai chiếu bạc đều quy định mỗi người chơi phải đóng tiền “chớn” 2.000.000đồng để chung chi tiền thắng thua. Nếu ai thua hết thì tiếp tục đóng chớn mới là 2.000.000 đồng và H được thu tiền xâu là 160.000 đồng (40.000 đồng/người). Hai chiếu bạc chơi đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện N bắt quả tang, đã thu giữ trên chiếu bạc 11.000.000 đồng, tiền, điện thoại, xe mô tô của con bạc và các vật dụng dung để đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị Hồng H cùng đồng phạm đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cụ thể:

Chiếu bạc thứ nhất:

  1. Đinh Thị Thu H2 là người thế chân Nguyễn Thị Kim P3. Do P3 đã đóng tiền chớn 1.000.000 đồng nên H2 đóng thêm 1.000.000 đồng tiền chớn. H2 không nhớ chơi bao nhiêu ván, số tiền thắng thua bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ của H2 01 xe mô tô và số tiền 17.340.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  2. Trần Thị Kim P dùng 1.000.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. Phụng không nhớ chơi bao nhiêu ván, số tiền thắng thua bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người P 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 xe mô tô và số tiền 9.650.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  3. Nguyễn Đình K3 dùng 2.000.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. K3 không nhớ chơi bao nhiêu ván, số tiền thắng thua bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ của K3 01 xe mô tô và số tiền 100.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  4. Nguyễn Thị T6 dùng 1.000.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. T6 không nhớ chơi bao nhiêu ván, số tiền thắng thua bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người T6 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại di động và số tiền 2.160.000 đồng không dùng để đánh bạc.

Cả Đinh Thị Thu H2, Trần Thị Kim P, Nguyễn Đình K3, Nguyễn Thị T6 đều thừa nhận khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ tại chiếu bạc 5.550.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của chiếu bạc thứ nhất là 7.550.000 đồng (gồm tiền trên chiếu bạc là 5.550.000 đồng + tiền trên người con bạc dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng).

Chiếu bạc thứ hai:

  1. Lê Thị Hồng H là chủ nhà, chuẩn bị bài tứ sắc, tấm vải, chén và cho 02 chiếu bạc đánh bạc tại nhà mình để thu tiền xâu nhưng do mới chơi thì bị bắt quả tang nên H chưa thu được tiền xâu. Đồng thời H còn trực tiếp tham gia đánh bạc, H dùng 1.500.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. H chơi được 03 ván, thua 02 ván, thắng 01 ván và không nhớ số tiền để dưới chiếu bạc là bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người H 500.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại di động và số tiền 10.670.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  2. Lê Thị Ngọc D dùng 1.500.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. Doanh chơi được 03 ván, thua 02 ván, thắng 01 ván và không nhớ số tiền để dưới chiếu bạc là bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người Doanh 500.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 xe mô tô và số tiền 3.000.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  3. Huỳnh Thị Ngọc C dùng 1.500.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. Chinh chơi được 03 ván, thua 02 ván, thắng 01 ván và không nhớ số tiền để dưới chiếu bạc là bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người C 500.000 đồng dùng để đánh bạc và số tiền 5.760.000 đồng không dùng để đánh bạc.
  4. Nguyễn Thị Kim P3 đánh bạc ở chiếu bạc thứ nhất 1.000.000 đồng. Ở chiếu bạc thứ hai này, P3 dùng 1.500.000 đồng dưới chiếu bạc để đánh bạc. P3 chơi thua 03 ván và không nhớ số tiền để dưới chiếu bạc là bao nhiêu. Khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ trên người P3 500.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 xe mô tô và số tiền 8.650.000 không dùng để đánh bạc.

Cả Lê Thị Hồng H, Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3 đều thừa nhận khi bị bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ tại chiếu bạc 5.450.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của chiếu bạc thứ hai là 7.450.000 đồng (gồm tiền trên chiếu bạc là 5.450.000 đồng + tiền trên người con bạc dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng).

Tổng số tiền đánh bạc của 02 chiếu bạc trên Cơ quan điều tra đã thu giữ là 15.000.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ 32 bộ bài tứ sắc, 02 tấm vải, 01 cái chén dùng để đánh bạc; số tiền 57.330.000 đồng trên người con bạc, 03 điện thoại di động, 05 xe mô tô không dùng để đánh bạc.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

  • 01 chén màu trắng, đường kính miệng chén là 8cm; 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,20 x 2,72)cm; 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,16 x 2,80)cm; 02 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (đã qua sử dụng) và 30 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (chưa qua sử dụng) thu tại chiếu bạc khi bắt quả tang. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.
  • Số tiền 72.330.000 đồng thu tại chiếu bạc và trên người các con bạc khi bắt quả tang, gồm: 15.000.000 đồng dùng để đánh bạc và 57.330.000 đồng không dùng để đánh bạc (Lê Thị Hồng H 10.670.000 đồng, Lê Thị Ngọc D 3.000.000 đồng, Huỳnh Thị Ngọc C 5.760.000 đồng, Nguyễn Thị Kim P3 8.650.000 đồng, Đinh Thị Thu H2 17.340.000 đồng, Trần Thị Kim P 9.650.000 đồng, Nguyễn Đình K3 100.000 đồng và Nguyễn Thị T6 2.160.000 đồng). Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải đang quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 362b ngày 10/4/2024 chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện N số TK 3949.0.9056132 đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải số TK 3949.0.1047597 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu 03 điện thoại và 05 xe mô tô vì không liên quan đến hành vi đánh bạc.

Bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSNH ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Lê Thị Hồng H để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự và tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Trần Thị Kim P, Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Kim P bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị Hồng H, Nguyễn Thị T6 có cha ruột là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Lê Thị Hồng H có chồng bị bệnh tâm thần được nhận trợ cấp hàng tháng, bị cáo là lao động chính duy nhất của gia đình được UBND xã H xác nhận và bị cáo Trần Thị Kim P là người cao tuổi, gia đình đơn chiếc chỉ có 02 vợ chồng già sống nương tựa nhau có xác nhận của chính quyền địa phương nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng H từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Gá bạc”; từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội xử phạt bị cáo từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng;
  2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim P từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và xử phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2Nguyễn Đình K3 từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T6 từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 32 bộ bài tứ sắc, 02 tấm vải và 01 cái chén là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 15.000.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang là tiền dùng để phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền 57.330.000 đồng thu giữ trên người các bị cáo không dùng để đánh bạc, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Lê Thị Hồng H 10.670.000 đồng, bị cáo Lê Thị Ngọc D 3.000.000 đồng, bị cáo Huỳnh Thị Ngọc C 5.760.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Kim P3 8.650.000 đồng, bị cáo Đinh Thị Thu H2 17.340.000 đồng, bị cáo Trần Thị Kim P 9.650.000 đồng, bị cáo Nguyễn Đình K3 100.000 đồng và Nguyễn Thị T6 2.160.000 đồng.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu 03 điện thoại, 05 xe mô tô vì không liên quan đến hành vi đánh bạc là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Trần Thị Kim P là người cao tuổi nên đề nghị miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra và không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng có cùng nội dung: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất có thể.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản sự việc về việc bắt quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, bị cáo Lê Thị Hồng H cho 02 chiếu bạc chơi đánh bạc trái phép trong cùng một lúc dưới hình thức đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền tại nhà ở thôn H, xã H, huyện N để thu tiền xâu thì bị Cơ quan điều tra cảnh sát điều tra Công an huyện N bắt quả tang cùng tang vật.
  3. Về số tiền dùng để đánh bạc: Quá trình điều tra đã xác định chiếu bạc thứ nhất gồm có các bị cáo Đinh Thị Thu H2, Trần Thị Kim P, Nguyễn Đình K3, Nguyễn Thị T6 đánh bạc với tổng số tiền là 7.550.000 đồng (gồm tiền thu giữ khi bắt quả tang trên chiếu bạc là 5.550.000 đồng và thu trên người con bạc dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng); chiếu bạc thứ hai gồm có các bị cáo Lê Thị Hồng H, Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3 đánh bạc với tổng số tiền là 7.450.000 đồng (gồm tiền thu giữ khi bắt quả tang trên chiếu bạc là 5.450.000 đồng và thu trên người con bạc dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng). Có căn cứ xác định tổng số tiền dùng đánh bạc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 15.000.000 đồng.
  4. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị Hồng H là cố ý trực tiếp. Bị cáo không rủ rê lôi kéo các bị cáo khác đến nhà mình để đánh bạc; nhưng sau khi xổ huê tại nhà bị cáo, các bị cáo khác lập sòng đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền thì bị cáo đồng ý dùng nhà mình để chứa bạc, chuẩn bị bài tứ sắc, 02 tấm vải, chén với mục đích trục lợi qua việc thu tiền xâu của các con bạc và bản thân bị cáo cũng trực tiếp tham gia đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc C, Lê Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Trần Thị Kim P, Nguyễn Đình K3, Nguyễn Thị T6 biết hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm; nhưng vẫn cố ý thực hiện, tham gia tại chiếu bạc có giá trị trên 5.000.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKSNH ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

Điều 322 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho ...02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng để đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên...”

  1. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý Nhà nước về trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; vì cờ bạc là tệ nạn xã hội, làm tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, là một trong những nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  2. Về nhân thân: Các bị cáo đều lần đầu phạm tội. Riêng bị cáo Trần Thị Kim P có 01 tiền án về tội đánh bạc.
  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng. Riêng bị cáo Trần Thị Kim P bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
    • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, xét hỏi tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Thị Hồng H có cha ruột là người có công với nước được tặng thưởng huân huy chương, chồng bị bệnh tâm thần được nhận trợ cấp hàng tháng và bị cáo là lao động chính duy nhất của gia đình được UBND xã H xác nhận nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị T6 có cha ruột là người có công với nước được tặng thưởng huân huy chương và có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác được tặng giấy khen nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trần Thị Kim P là người cao tuổi, gia đình đơn chiếc chỉ có 02 vợ chồng già sống nương tựa nhau có xác nhận của chính quyền địa phương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét chuyển khung hình phạt cho các bị cáo.

  1. Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn. Tuy nhiên, từng bị cáo có nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau nên khi lượng hình cần thiết phải xem xét để xử một mức án tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng bị cáo gây ra, cụ thể:

Bị cáo Lê Thị Hồng H mới lần đầu phạm tội, số tiền đánh bạc không lớn và bị cáo chưa thu lợi bất chính từ việc thu tiền xâu của các con bạc. Ngoài ra, bị cáo có chồng bị bệnh tâm thần đang hưởng bảo trợ xã hội hàng tháng tại UBND xã H, là lao động chính duy nhất trong gia đình nuôi chồng và hai con đang tuổi ăn học. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng; nên xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự thì cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Qua đó, cũng thể hiện chính sách pháp luật Hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người có hoàn cảnh như bị cáo.

Bị cáo Trần Thị Kim P đã có một tiền án về tội đánh bạc, sau khi chấp hành xong hình phạt không biết tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy số tiền bị cáo đánh bạc không lớn, bị cáo là người cao tuổi và gia đình đơn chiếc; nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự, để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương thì cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Qua đó, cũng thể hiện chính sách pháp luật Hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người cao tuổi. Nhưng bên cạnh đó cũng cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, để răn đe và giáo dục bị cáo về sau.

Các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nên xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự thì cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt. Xét thấy, bị cáo T6 có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn, nên mức hình phạt tiền cũng thấp hơn so với các bị cáo khác. Qua đó, cũng thể hiện chính sách pháp luật Hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người biết ăn năn hối cải.

  1. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • Đối với 02 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (đã qua sử dụng); 30 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (chưa qua sử dụng); 01 chén màu trắng, đường kính miệng chén là 8cm; 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,20 x 2,72)cm và 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,16 x 2,80)cm thu tại chiếu bạc khi bắt quả tang là công cụ dùng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với số tiền 15.000.000 đồng dùng để đánh bạc (gồm 11.000.000 đồng thu tại chiếu bạc và số tiền 4.000.000 đồng thu trên người của các con bạc dùng đánh bạc) đây là tiền phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Đối với tổng số tiền 57.330.000 đồng thu giữ của các bị cáo, cụ thể: Lê Thị Hồng H 10.670.000 đồng, Lê Thị Ngọc D 3.000.000 đồng, Huỳnh Thị Ngọc C 5.760.000 đồng, Nguyễn Thị Kim P3 8.650.000 đồng, Đinh Thị Thu H2 17.340.000 đồng, Trần Thị Kim P 9.650.000 đồng, Nguyễn Đình K3 100.000 đồng và Nguyễn Thị T6 2.160.000 đồng. Qúa trình điều tra đã có căn cứ xác định không liên quan đến việc đánh bạc; nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc hình phạt tiền đối với các bị cáo.
    • Cơ quan điều tra còn tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu 03 điện thoại và 05 xe mô tô vì không liên quan đến hành vi đánh bạc là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
  2. Về án phí: Các bị cáo Lê Thị Hồng H, Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Trần Thị Kim P là người cao tuổi được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  3. Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với các bị cáo, về xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Hồng H phạm tội “Đánh bạc” và tội “Gá bạc”.

  • Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng H số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội “Gá bạc” để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • Tổng hợp hình phạt của cả hai tội: Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng H số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim P phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim P 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Thị Kim P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Trần Thị Kim P 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt các bị cáo Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2Nguyễn Đình K3 mỗi người 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T6 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T6 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  1. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (đã qua sử dụng); 30 bộ bài tứ sắc hiệu CONBEO (chưa qua sử dụng); 01 chén màu trắng, đường kính miệng chén là 8cm; 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,20 x 2,72)cm và 01 tấm vải màu xanh kích thước (3,16 x 2,80)cm;
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) là tiền dùng đánh bạc.
  • Tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 57.330.000 đồng thu giữ của các bị cáo, gồm: Lê Thị Hồng H 10.670.000 đồng, Lê Thị Ngọc D 3.000.000 đồng, Huỳnh Thị Ngọc C 5.760.000 đồng, Nguyễn Thị Kim P3 8.650.000 đồng, Đinh Thị Thu H2 17.340.000 đồng, Trần Thị Kim P 9.650.000 đồng, Nguyễn Đình K3 100.000 đồng và Nguyễn Thị T6 2.160.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tiếp tục tạm giữ số tiền 72.330.000 đồng (Bảy mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) đang quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 362b ngày 10/4/2024 chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện N số TK 3949.0.9056132 đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải số TK 3949.0.1047597 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N và vật chứng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2024 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để thi hành án.
  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Lê Thị Hồng H, Lê Thị Ngọc D, Huỳnh Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Kim P3, Đinh Thị Thu H2, Nguyễn Đình K3Nguyễn Thị T6 mỗi người phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Thị Kim P được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai có mặt các bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/5/2024).

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND huyện Ninh Hải;

- Công an huyện Ninh Hải;

- Chi cục THADS huyện Ninh Hải;

- Thi hành án phạt tù;

- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;

- UBND xã Hộ Hải;

- UBND xã Tân Hải;

- Các bị cáo;

- Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (đánh bạc và gá bạc)

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc và Gá bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo H 70 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger