Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI

Bản án số:24/2024/HS-ST

Ngày 29/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Cao Hoàng Dân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC A, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn N, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị T; vợ Bùi Thị B, sinh năm 1992; con có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 87 lập ngày 14/3/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị cáo dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Chị Lò Thị H1, sinh năm 1987. Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Đinh Thị B1, sinh năm 1968. Trú tại: thôn A, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị T, sinh năm 1972. Trú tại: thôn N, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1958. Trú tại: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 04/12/2023, Nguyễn Đức A1, sinh năm 1992, trú tại: thôn N, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội điều khiển xe đạp từ nhà đến khu vực đình Thượng Tiết, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Khi đi đến quán bia của gia đình chị Lò Thị H1, sinh năm 1987, trú tại: T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội thấy không có ai ở nhà, Đức A1 đã nảy sinh ý định đột nhập để trộm cắp tài sản. Đức A1 dựng xe đạp ở mép đường và đi bộ theo lối ngách vào đình T rồi đi men trong khuôn viên vườn của đình tới khu vực phòng ngủ nhà chị H1 được lợp, quây bằng tôn, Đức A1 mở then cửa bên ngoài đột nhập vào phòng ngủ lấy 01 bộ nạp ắc quy để đối diện với cạnh giường ngủ phía ngoài. Lấy được tài sản, Đức A1 đi ra thì chân vấp vào màn làm chiếc gối bật lên, Đức A1 nghe thấy có tiếng động “Leng keng” phát ra từ trong gối nên đã cầm gối kéo khoá ra kiểm tra thì phát hiện có 1 hộp nhựa màu đỏ, có hoạ tiết màu vàng (hộp thường đựng đồ trang sức), mở hộp thì phát hiện bên trong có 1 nhẫn vàng trơn, loại 1 chỉ, thương hiệu “Thành Đạt” và 1 ít bông màu trắng, Đức A1 cầm lên cho vào túi quần đi ra đến khu vực bếp, thấy mở cửa nên đột nhập vào lấy 01 máy bơm (loại máy bơm đĩa) để ở gần khu vực máy lọc nước của gia đình chị H1. Sau khi lấy được tài sản, Đức A1 đạp xe đạp đi về đến khu vực nhà thờ thôn H, xã A, huyện M, TP Hà Nội thì bán 01 máy bơm nước và 01 bộ nạp ắc quy cho một người phụ nữ thu mua sắt vụn qua đường (không quen biết) được số tiền là 220.000đ. Sau đó Đức A1 đạp xe đạp đến hiệu vàng Thu H3thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội bán 01 chỉ vàng vừa trộm cắp được cho ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1958 (là chủ hiệu vàng) được số tiền là 5.900.000đ, rồi đạp xe về nhà, toàn bộ số tiền trộm cắp được Đức A1 tiêu sài cá nhân hết.

Đến trưa ngày 12/12/2023, Đức A1 tiếp tục đột nhập vào nhà chị H1 lấy 01 chiếc quạt điện công nghiệp màu đen hiệu KOMASU để ở khu vực gần cửa sổ rồi mang ra buộc lên xe đạp đi về đến thôn A, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội và bán chiếc quạt công nghiệp này cho bà Đinh Thị B1, sinh năm 1968, trú tại: thôn A, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội được số tiền là 300.000đ, số tiền này Đức A1 đã tiêu sài cá nhân hết. Đến chiều ngày 12/12/2023, Đức A1 được yêu cầu lên Công an xã Đ để làm việc liên quan đến vụ việc nêu trên. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Đức A1 khai nhận hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với hiện trường và tài liệu chứng cứ khác.

Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 chiếc áo khoác màu đen có mũ, ống tay áo bên trái có 04 viền kè ngang màu trắng, túi áo bên trái có ô vuông màu trắng có chữ “SIZE OF” và 01 quần màu đen, ống quần bên trái đùi trước có ký hiệu là số 16 màu trắng là trang phục Đức A1 mặc khi đi trộm cắp tài sản của gia đình chị H1.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M ra yêu cầu định giá tài sản số 80/YC-ĐTTH yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện M định giá 01 chỉ vàng 9999 (loại nhẫn tròn trơn) và 01 chiếc quạt điện công nghiệp hiệu KOMASU.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M ra Bản kết luận định giá tài sản số 01 kết luận:

- 01 chiếc quạt màu đen hiệu KOMASU (đã qua sử dụng), kích thước cao 1,3m, đường kính lồng quạt 40 cm, trụ quạt hình tròn bằng kim loại, có chân đế 4 chân bằng kim loại có giá trị là 850.800 đồng;

- 01 chỉ vàng 9999 (loại nhẫn tròn trơn) có giá trị 6.137.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá (đã trừ hao mòn) là 6.987.800 đồng.

Ngày 03/01/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M ra yêu cầu định giá tài sản số 10/YC-ĐTTH yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M định giá 01 máy bơm nước loại máy đĩa hiệu Tiến Phát và 01 bộ nạp ắc quy (loại tự quấn không có thương hiệu).

- 01 máy bơm nước (loại máy bơm đĩa hiệu Tiến Phát) có giá trị là: 1.308.000 đồng;

- 01 bộ nạp ắc quy ô tô (loại tự quấn không có thương hiệu) có giá trị là: 448.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá (đã trừ hao mòn) là 1.756.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đức A1 chiếm đoạt qua hai lần định giá tài sản là: 8.743.800 đồng.

Ngày 14/12/2023, gia đình bà B1 đã nộp chiếc quạt công nghiệp trên cho cơ quan Công an, bà B1 không yêu cầu Đức A1 phải trả lại bà tiền.

Bị cáo Nguyễn Đức A1 và mẹ bị cáo là bà Bùi Thị T đã bồi thường cho chị H1 số tài sản mà Đức A1 đã chiếm đoạt. Chị H1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức A1 phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đức A1.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKS-HS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức A1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Đức A1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường và nhận lại tài sản nên không ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc áo khoác màu đen có mũ, ống tay áo bên trái có 04 viền kè ngang màu trắng, túi áo bên trái có ô vuông màu trắng có chữ “SIZE OF” và 01 quần màu đen, ống quần bên trái đùi trước có ký hiệu là số 16 màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức A1 mặc đi trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Đức A1 thừa nhận hành vi pham tội của mình. Bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luận định giá đối với tài sản bị cáo trộm cắp là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bị hại chị Lò Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị B1 và ông Nguyễn Văn H2 đều được triệu tập hợp lệ; chị H1 đã được bồi thường và nhận lại tài sản, có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn H2 không có ý kiến gì đến việc cửa hàng ông mua chiếc nhẫn vàng và có đơn xin xét xử vắng mặt; bà B1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại số tiền mua chiếc quạt nên việc vắng mặt của chị H1, bà B1 và ông H2 không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt họ là hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền ăn tiêu nên trong các ngày 04/12/2023 và ngày 12/12/2023, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản nên Nguyễn Đức A1 đã lén lút vào nhà chị Lò Thị H1, tại thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 bộ nạp ắc quy ô tô (loại tự quấn không có thương hiệu), 01 chỉ vàng 9999 (loại nhẫn tròn trơn), 01 máy bơm nước (loại máy bơm đĩa hiệu Tiến Phát) và 01 chiếc quạt màu đen hiệu KOMASU (đã qua sử dụng), tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.743.800 đồng.

Theo Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định về tội: Trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000 đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Như vậy hành vi của Nguyễn Đức A1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, lần thứ nhất bị cáo trộm cắp tài sản có tổng trị giá là 7.893.000đồng và lần thứ hai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tài sản chiếm đoạt là chiếc quạt KOMASU có trị giá là 850.800đồng, dưới mức định lượng 2 triệu đồng nên không thuộc tình tiết tăng nặng trách hình sự là: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, chỉ cộng tổng trị giá tài sản hai lần bị cáo trộm cắp để truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đến ngày 21/12/2023 đã tự nguyện đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại sở cai nghiện ma tuý số 5 – Hà Nội, với thời hạn 06 tháng; đến ngày 13/3/2024 về địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M. Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo và mẹ bị cáo là bà Bùi Thị T đã bồi thường cho người bị hại và người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và để bị cáo có cơ hội sửa chữa làm lại cuộc đời. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét. Đối với bà Bùi Thị T là mẹ đẻ của bị cáo Đức A1 tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo phần tài sản và tại phiên tòa bà không yêu cầu bị cáo Đức A1 phải bồi hoàn lại phần bà đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc áo khoác màu đen có mũ, ống tay áo bên trái có 04 viền kè ngang màu trắng, túi áo bên trái có ô vuông màu trắng có chữ “SIZE OF” và 01 quần màu đen, ống quần bên trái đùi trước có ký hiệu là số 16 màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức A1 mặc đi trộm cắp tài sản cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe đạp Nguyễn Đức A1 sử dụng để trộm cắp tài sản, quá trình xác minh xác định chiếc xe đạp này thuộc sở hữu của bà Bùi Thị T, sinh năm 1972, trú tại: thôn N, xã H, huyện M, TP Hà Nội (là mẹ đẻ của Đức A1). Việc Đức A1 sử dụng chiếc xe đạp trên đi trộm cắp tài sản, bà T không biết, nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện M không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với việc bà Đinh Thị B1Nguyễn Văn H2 khi mua tài sản của Nguyễn Đức A1, bà B1 và ông H2 không biết là tài sản do trộm cắp mà có, nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện M không đề cập xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Đức A1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/5/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Đức A1 cho UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo khoác màu đen có mũ, ống tay áo bên trái có 04 viền kè ngang màu trắng, túi áo bên trái có ô vuông màu trắng có chữ “SIZE OF” và 01 quần màu đen, ống quần bên trái đùi trước có ký hiệu là số 16 màu trắng.

Những tang vật trên hiện do Chi cục thi hành án Dân sự quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đức A1 phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đức A1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/5/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại chị Lò Thị H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị B1 và ông Nguyễn Văn H2 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger