Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27 - 8 - 2024

“V/v: Ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Hợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và bà Bùi Thị Thêm

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Công Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Bá Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2024/TLST-DS ngày 10/7/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà H I, sinh năm 1999. Địa chỉ: Buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Y S, sinh năm 1997. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở hiện nay: Buôn M1, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà H Y, sinh năm 1988. Địa chỉ: Buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà H I trình bày:

Bà H I và ông Y S đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng luôn bất đồng tư tưởng, quan điểm, không còn quan tâm đến nhau. Hiện tại tình cảm giữa bà H I và ông Y S không còn hạnh phúc. Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H I được ly hôn với ông Y S.

Về con chung: Bà H I và ông Y S có 01 con chung họ tên Y K, sinh ngày 09/10/2018. Hiện tại con đang sống chung với bà H I. Sau khi ly hôn, bà H I xin nhận quyền nuôi con đến khi đủ 18 tuổi. Bà H I không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Y S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

* Người làm chứng bà H Y trình bày: Trong thời gian sống chung vợ chồng bà H I và ông Y S luôn bất đồng tư tưởng, quan điểm, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Bà H I và ông Y S hiện nay không còn sống chung với nhau. Con chung bà H I đang nuôi dưỡng, chăm sóc.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng, có cơ sở nên cần chấp nhận, đề nghị Tòa án xử cho bà H I được ly hôn với ông Y S; Về con chung: giao con chung Y K, sinh ngày 09/10/2018 cho bà H I nuôi đến khi đủ 18 tuổi;
  • Về án phí: Bà H I thuộc hộ cận nghèo, đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình cho bà H I.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và phát biểu của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn bà H I, Tòa án nhân dân huyện M xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại buôn M1, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Việc đăng ký kết hôn giữa bà H I và ông Y S vào ngày 23/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M trên tinh thần tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Quá trình sống chung, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau, vợ chồng không còn sống chung với nhau từ lâu, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà H I là có căn cứ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết cho bà H I được ly hôn với ông Y S.

[3] Về con chung: Bà H I và ông Y S có 01 con chung Y K, sinh ngày 09/10/2018. Con còn nhỏ, hiện đang do bà H I nuôi dưỡng, chăm sóc, đảm bảo được các quyền lợi cho con. Vì vậy, HĐXX cần giao con cho bà H I tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc khi vợ chồng ly hôn.

[4] Về cấp dưỡng và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà H I thuộc hộ cận nghèo xét miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H I.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà H I được ly hôn với ông Y S.
  2. Về con chung: Giao con Y K, sinh ngày 09/10/2018 cho bà H I nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình cho bà H I.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐắkLắk;
  • - VKSND huyện M;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã K;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Võ Đức Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger