|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 24/2024/DSST Ngày: 26/4/2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thanh Tấn
- Bà Lương Thị Mỹ Linh
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Cán bộ Tòa án nhân dân Tp. Phan Thiết
Trong các ngày 24, 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 313/2019/ TL- DSST ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/QĐXX ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1960, Bà Võ Thị Thu H – sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn T, xã T, Tp ., tỉnh Bình Thuận.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Văn B - Luật sư thuộc Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh B.
- - Bị đơn: Ông Đỗ Hoàng – sinh năm 1968, Bà Đoàn Thị L - sinh năm 1964. Trú tại: Thôn T, xã T, Tp ., tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị Thu H trình bày:
Vào năm 1994 nhà nước làm Cảng cá P, nên di dân ở khu vực này và phân đất cho dân đến ở tại khu dân cư C, thôn T, xã T, P. Trong đó có hộ bà Nguyễn Thị T1 được cấp 1 phiếu lô 61. Biết được chủ trương của nhà nước nên vợ chồng ông bà có mua lại của bà Nguyễn Thị T1 phiếu lô số 61 của bà T1 năm 1994. Bà T1 nay đã chết đã lâu. Sau khi nhận đất tại khu dân cư C gia đình ông bà cất nhà ở. Năm 1995 nước biển xâm thực làm sạt lở đất nên không còn đất nữa. Vào lúc đó B1 phòng chông lụt bão Phan T2 phối hợp với xã T chỉ khoảng diện tích đất tại khu vực tranh chấp hiện nay cho 16 hộ dân bị biển xâm thực năm 1995 cất nhà ở tạm. Người dân tự phân ra 5x15m 1 lô. Ông bà cất nhà tạm ở buôn bán bánh cho học sinh gần nhà, còn hè thì quay vê Đức T3 ở. Năm 1996 ông bà cho bà Nguyễn Thị Ngọc Y ở nhờ, sau đó bà Y dọn đi nơi khác mà không thông báo lại. Năm 1997, vợ chồng ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L tự ý đến chiếm nhà đất để ở. Ông bà đên nói với ông H1, bà L trả lại đất nhưng Đỗ H1, bà Đoàn Thị L hứa 2 tháng sau trả lại mà đến nay vẫn không trả. Nay ông bà kiện yêu cầu bị đơn trả lại cho ông bà 75m² đất, vị trí đất có chiều ngang 5m, dài 15m. Thửa đất giáp trường học theo sơ đồ công ty H5 đo vẽ.
* Bị đơn ông Đỗ H2, bà Đoàn Thị L trình bày: Vào năm 1997 vợ chồng ông bà không có nhà ở nên đến T gặp ông Bảy H3, trưởng thôn Tiến Đ nói xin chú chỉ cho 1 miếng đất trống để ở. Ông Bảy H3 chỉ 01 miếng đất trống, không có rào chắn, để hoang, cây cối mọc um tùm, cỏ rác xã đầy trên đất. Ông Bảy H3 có nói đất cấp cho vợ chồng ông T ở nhưng vợ chồng ông T bỏ đi, không ở. Vì vậy ông bà đã đến phát dọn, dựng nhà ở tạm trên thửa đất đó và có khai hoang thêm. Đến năm 2010 xây nhà kiên cố ở cho đến nay. Khi xây nhà ở không bị xử phạt gì. Đến năm 2017 vợ chồng T đến đòi ông bà cắt 1 lô đất cho bà Y1 ở do vợ chồng ông T có thiếu tiền của bà Y1. Lúc đó ông bà có cắt cho bà Y1 1 lô trong số đất ông bà khai hoang thêm cho bà Y1 ở tuy nhiên bà Y1 không chịu ở vì đường xá đi lại khó khăn. Năm 2019 ông T lấy giấy mua đất với bà T1 đến gây sự đòi đất. Theo ông bà biết thì lô 61 hiện đã cấp tái định cư cho dân ở thôn T, xã T, P chứ không phải đất này.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những lý do sau:
- Tại Đơn khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 03/12/2019 của vợ chồng ông Nguyễn Văn T có nội dung: “Nhà nước cấp lại 01 lô đất tái định cư (trong số 16 lô Nhà nước cấp đợt này), diện tích 5m x 15m = 75 m², đất tọa lạc tại thôn T, xã T, PhanThiết. Đất có tứ cận như sau:
- - Đông giáp đất ông Đoàn Văn D.
- - Tây giáp đất trống
- - Nam giáp mương nước
- - Bắc giáp mặt sau trường học thôn T.”
Tuy nhiên, tại giấy sang nhượng đất của bà Võ Thị Thu H ngày 10/6/1994 và tại Phiếu giao đất lô số 61 tháng 4/1994 của UBND thị xã P chỉ thể hiện diện tích và số lô 61 không thể hiện tứ cận hoặc vị trí thửa đất như bà H đã nêu tại đơn khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 03/12/2019. Vậy, việc tranh chấp quyền sử dụng đất đai đối với thửa đất của gia đình bị đơn có thực sự chính xác hay không?
- Tại Công văn số 504/UBND-ĐCXD ngày 23/06/2021 của UBND xã T, Tp . về việc phản hồi trường hợp tranh chấp đất đai giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và vợ chồng ông Đỗ Hoàng t thôn T, xã T có nêu “ Vào năm 1994 vợ chồng ông Nguyễn Văn T có mua lại lô đất 61. Do các hộ dân bức xúc về chỗ ở, thị xã P (nay là thành phố P) có phối hợp với xã T và thôn T chỉ đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T và các hộ dân khác để dựng nhà ở (không giao phiếu lô). Về quy định thì việc giao đất ở là ổn định và lâu dài.” Việc không giao phiếu lô và hành động chỉ đất, chỉ là ở tạm thời, diện tích đất chỉ đó có đúng vị trí thửa đất của gia đình đang ở hay không? Bằng chứng nào chứng minh việc đó? Đất này không có Quyết định chính thức của UBND thị xã P. UBND xã T có nêu “về quy định thì việc giao đất ở là ổn định và lâu dài” liệu có đúng với quy định pháp luật đất đai hay không? Nếu đúng thì căn cứ tại điều khoản nào của Luật Đất Đai?
- Tại Phiếu giao đất lô số 61 tháng 4/1994 của UBND thị xã P có nêu “có giá trị tạm thời cho hộ sử dụng đất ở tại khu dân cư C thuộc xã T để làm nhà ở đến khi có Quyết định giao đất chính thức.” Tuy nhiên, ông T, bà H không có Quyết định giao đất chính thức của UBND xã P tại thời điểm đó.
Ngoài ra, gia đình bị đơn đã xây dựng nhà ở ổn định tại thửa đất này từ năm 1997 và đóng thuế đất cho Chi cục thuế.
Từ những căn cứ nêu trên, việc vợ chồng ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà gia đình ông bà đang sinh sống là không đủ cơ sở, do đó đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất tranh chấp. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đã thể hiện: Thửa đất nằm trong 16 lô đất được Ủy ban nhân dân xã T, Tp . tạm giao cho 16 hộ bị biển xâm thực tại khu dân cư C năm 1995. Đất không có giấy tờ về đất. Diện tích thửa đất tranh chấp 125,0m². Đông giáp đất ông Đoàn Văn D, Tây giáp đất bà Đoàn Thị L, Nam giáp nhà văn hóa thôn T, Bắc giáo trường tiểu học T6. Trên đất có 1 căn nhà cấp 4C, diện tích 34,5m², nhà bếp 7,8m², nhà vệ sinh 6,0m². Nhà xây không có giấy phép xây dựng.
Tại Biên bản xác định giá trị tài sản tranh chấp ngày 02/4/2024, sau khi được Tòa án giải thích theo Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 các đương sự đã tự thỏa thuận được về việc xác định giá trị tài sản để làm căn cứ giải quyết, cụ thể như sau:
- - Thỏa thuận được giá trị tài sản đang tranh chấp tại thôn T, xã T, Tp . Đất không có giấy tờ về đất. Giá thỏa thuận là 500.000 đồng/m². Tài sản trên đất là căn nhà, giá thỏa thuận là 500.000 đồng/m².
Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Văn B – Luật sư thuộc Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh B phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn cho rằng: Căn cứ vào công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã T cho thấy nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Thu H là người được Nhà nước cấp đất năm 1995 vì nhà của nguyên đơn tại khu dân cư C bị biển xâm thực. Việc giao đất này có giá trị ổn định và lâu dài. Bị đơn đã chiếm dụng thửa đất của nguyên đơn bất hợp pháp nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải giao trả cho nguyên đơn 75m² đất tại thôn T, xã T, P.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn 75m² đất tại thôn T, xã T, P.
Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L cư trú tại thôn T, xã T, Tp ..phải trả lại 75m² đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Việc tranh chấp được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận tiến hành hoà giải và có kết quả hoà giải không thành vào ngày 28/10/2019. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn khởi kiện cho rằng vào năm 1994 nguyên đơn có mua lại phiếu lô 61 của bà Phan Thị T4 là đối tượng thuộc diện di dân ở khu vực C cá P và phân đất cho dân đến ở tại khu dân cư C, thôn T, xã T, P. Bà T4 nay chết đã lâu. Sau khi nhận đất tại khu dân cư C gia đình ông bà cất nhà ở. Năm 1995 nước biển xâm thực làm sạt lở đất nên không còn đất nữa. Vào lúc đó Ban P phối hợp với xã T chỉ khoảng diện tích đất tại khu vực tranh chấp hiện nay cho 16 hộ dân bị biển xâm thực năm 1995 cất nhà ở tạm. Người dân tự phân ra 5x15m 1 lô. Vợ chồng ông bà cất nhà tạm ở buôn bán bánh cho học sinh gần nhà. Hè thì ông bà về Đ ở. Năm 1996 ông bà cho bà Nguyễn Thị Ngọc Y ở nhờ, sau đó bà Y dọn đi nơi khác mà không thông báo lại. Năm 1997, vợ chồng ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L tự ý đên chiếm nhà đất để ở cho đến nay. Ông bà đòi nhiều lần nhưng ông H1 bà L vẫn không trả đất. Vì vậy ông bà khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại cho ông bà 75m² đất thôn T, xã T, P.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ là phiếu lô 61 và giấy tờ mua bán giữa nguyên đơn với bà Nguyễn Thị T1.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn không có các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất. Đất này bị đơn đã quản lý sử dụng từ năm 1997 cho đến nay và hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước nên không đồng ý trả lại đất cho nguyên đơn.
Xét trong vụ án này các đương sự tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tuy nhiên các đương sự không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013. Tuy nhiên, các bên đều xác định mình không đăng ký kê khai vào hồ sơ địa chính của địa phương. Vì vậy, Tòa án dựa trên những chứng cứ về nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng đất, các chứng cứ về việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan quản lý đất đai. Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và những chứng cứ tòa án xác minh, thu thập được để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã có công văn hỏi chính quyền địa phương về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp. Tại công văn số 504 ngày 23/6/2021 UBND xã T đã trả lời:
- Vào năm 1994 vợ chồng ông Nguyễn Văn T có mua lại lô đất 61 của bà Nguyễn Thị T1 để dựng nhà ở. Đến năm 1995 do bị nước biển xâm thực nên sạt lở nhà và đất của một số hộ dân, trong đó có trường hợp vợ chồng Ông Nguyễn Văn T tại lô đất 61. Do các hộ dân bức xúc về chỗ ở, thị xã P (nay là thành phố P) có phối hợp với xã T và thôn T chỉ đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T và các hộ dân khác để dựng nhà ở (không giao phiếu lô). Về quy định thì việc giao đất ở là ổn định và lâu dài.
- Việc vợ chồng ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L cho rằng họ đã ở trên đất, xây dựng nhà ở từ năm 1997 đến nay và nộp thuế đầy đủ là không chính xác, không có cơ sở đê xem xét. Vì vị trí đất đang tranh châp có nguôn gốc do nhà nước chỉ cho vợ chông ông Nguyễn Văn T5 dựng nhà ở; Đât không phải do vợ chông ông Đỗ H1 khai hoang. Vợ chồng ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L chỉ có kê khai nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Từ nội dung công văn có thể xác định nguyên đơn là người mua lại phiếu lô 61 của bà Nguyễn Thị T1 năm 1994, nguyên đơn cất nhà ở đến năm 1995 bị biển xâm thực. Khi đó nguyên đơn và các hộ dân bị biển xâm thực năm 1995 bức xúc về chỗ ở nên được chính quyền địa phương chỉ cho khu đất này để ở tạm thời trong lúc chờ chính sách của nhà nước giải quyết việc nhà đất ở khu dân cư C, thôn T xã T, P biển xâm thực. Ủy ban nhân dân xã T cũng đã xác định là lúc chỉ đất cho các hộ dân ở khu vực không có giao phiếu lô hoặc không có bất kỳ quyết định hoặc biên bản gì của cơ quan có thẩm quyền về việc giao đất khu vực này cho các hộ dân. Căn cứ quy định của Luật đất đai, việc giao đất phải tuân thủ đúng trình tự quy định của Luật đất đai mới được công nhận quyền sử dụng đất. Ngoài phiếu lô 61, nguyên đơn cũng không cung cấp được cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ về việc nguyên đơn được nhà nước giao cho quyền quản lý, sử dụng thửa đất tranh chấp này. Công văn của Ủy ban nhân dân xã T cũng không phải là căn cứ xác định nguyên đơn là người được giao đất hợp pháp. Công văn của Ủy ban nhân dân xã T chỉ có căn cứ để Tòa án xem xét nguồn gốc đất từ đâu mà có, ai là người đang quản lý sử dụng thửa đất này để làm căn cứ xem xét giải quyết tranh chấp. Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không cung cấp được cho Tòa án quyết định giao đất và các giấy tờ hợp pháp về việc giao đất. Đồng thời qua quá trình xác minh thu thập tài liệu chứng cứ cho thấy thửa đất tranh chấp này nhà nước không có quyết định giao đất cho nguyên đơn, đất này không phải là của nguyên đơn được nhà nước cấp đất khi nhà ở khu dân cư C bị biển xâm thực.
Qua công văn của Ủy ban nhân dân xã T cũng như lời khai của các đương sự cho thấy: Sau khi được chính quyền địa phương chỉ cho khu đất này để ở thì nguyên đơn chỉ ở trên đất tranh chấp được một năm thì bỏ đi, để mặc cho người khác chiếm đóng, cất nhà ở kiên cố và quản lý sử dụng cho đến nay mà không có ý kiến gì. Căn cứ quy định tại Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013 thì nguyên đơn không đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quản lý sử dụng đất ổn định, liên tục. Nguyên đơn chỉ ở trên đất tranh chấp được một năm và cũng không kê khai, đăng ký đất đai, không quản lý sử dụng đất ổn định, liên tục, không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 nên không thể được công nhận quyền sử dụng đất.
Tại công văn số 6908/UBND-NC ngày 16/12/2021 của Ủy ban nhân dân T cho thấy thửa đất tranh chấp hiện nay nằm trong dự án lấn biển, bố trí và sắp xếp lại khu dân cư và chỉnh trang đô thị tại phường Đ, xã T và xã T đã có văn bản chấp thuận đầu tư và Thông báo thu hồi đất. Đương sự không được cấp giấy CNQSD đất. Tại Thông báo thu hồi đất số 1764 ngày 19/01/2018 thể hiện thửa đất tranh chấp đứng tên chủ sử dụng đất là hộ bà Đoàn Thị L, không phải tên nguyên đơn.
Quyền lợi của nguyên đơn gắn liền với lô số 61 tại khu dân cư C, thôn T, xã T, P. Tuy nhiên qua biên bản cuộc họp xét cấp đất cho các hộ dân bị biển xâm thực tài thôn T, xã T, P số 67/HĐXGQĐO-BXT ngày 25/7/2016 cho thấy do nguyên đơn không quản lý sử dụng thửa đất có ký hiệu lô số 61 tại khu dân Cư C nên năm 1996 lô đất này đã bị người khác sử dụng cất nhà ở và sau đó lại bị biển xâm thực năm 2015 và hiện họ đã được xét giao cho một lô tái định cư tại thôn T, xã T, P thu 50% tiền sử dụng đất.
Tại phiên tòa Luật sư cho rằng: Căn cứ vào công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã T cho thấy nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Thu H là người được Nhà nước cấp đất năm 1995 vì nhà của nguyên đơn tại khu dân cư C bị biển xâm thực. Việc giao đất này có giá trị ổn định và lâu dài. Bị đơn đã chiếm dụng thửa đất của nguyên đơn bất hợp pháp nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải giao trả cho nguyên đơn 75m² đất tại thôn T, xã T, P. Ý kiến này của Luật sư là không có cơ sở chấp nhận vì qua xác minh ngày 20/3/2024 đại diện Ủy ban nhân dân xã T, Tp . đã cho biết: Thửa đất tranh chấp này từ trước tới nay không có ai đăng ký kê khai. Thửa đất chưa được đo đạc và thể hiện trên bản đồ địa chính. Khu đất này chỉ có bản đồ dự án. Ủy ban nhân dân xã T không quy chủ khu đất này cho hộ gia đình, cá nhân nào. Từ đó cho thấy việc Ủy ban nhân dân xã T, Tp . có tham gia vào việc chỉ khu đất này cho 16 hộ dân bị biển xâm thực năm 1995 chỉ là tạm chỉ cho dân ở tạm trong lúc bức xúc về chỗ ở. Ủy ban nhân dân xã T không có thẩm quyền giao đất. Vì vậy có thể xác định thửa đất tranh chấp này không phải đất do nhà nước cấp cho nguyên đơn cũng như không thể công nhận cho nguyên đơn được quyền quản lý sử dụng thửa đất này để buộc bị đơn phải trả lại đất tranh chấp cho nguyên đơn theo như đề nghị của Luật sư
Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác như chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ vào các quy định tại khỏa 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91, 92; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 163; 166 Bộ luật dân sự
Điều 100; 101; 125; 166; 170; 179; 203 Luật đất đai 2013
Điều 18; 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013
Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Luật thi hành án dân sự
2/Tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị Thu H về việc yêu cầu ông Đỗ H1, bà Đoàn Thị L trả lại 75m² đất tại thôn T, xã T, Tp ..
- - Về án phí DSST và chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí DSST và chịu chi phí đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ. Ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị Thu H đã nộp 5.000.000 đồng tạm ứng chi phí đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ nên nay không phải nộp khoản tiền này nữa.
Ngày 18/12/2019 ông T, bà H đã nộp 3.750.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0005270 tại Chi cục thi hành án dân sự Phan Thiết nay được khấu trừ vào tiền án phí dân sự sơ thẩm phải nộp. H4 lại cho ông bà 3.450.000 đồng.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của Nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 24/2024/DSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 24/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
